Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TÂY NINH

Bản án số: 582/2024/DS-PT.

Ngày: 29 - 11 -2024.

V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Phạm Văn Tâm.

Các Thẩm phán: ông Hồ Văn Cường; bà Nguyễn Thanh Minh Châu.

Thư ký phiên tòa: ông Ngô Tấn Tài – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: bà Đặng Thị Châu - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 419/2024/TLPT-DS ngày 07 tháng 10 năm 2024, về “tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 138/2024/DS-ST ngày 23 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 554/2024/QĐ-PT ngày 28 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: bà Lê Thị K, sinh năm 1941; nơi cư trú: ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt.

    Người đại diện hợp pháp của bà K: bà Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 1967; nơi cư trú: ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Tây Ninh (Văn bản uỷ quyền ngày 20/3/2023); có mặt.

  2. Bị đơn:

    1. Ông Nguyễn Tấn H1, sinh năm 1967; nơi cư trú: ấp G, xã L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt.

      Người đại diện hợp pháp cho ông H1: ông Nguyễn Tấn Đ, sinh năm 1962; nơi thường trú: Tổ H ấp B, xã H, huyện C, tỉnh Tây Ninh; chỗ ở hiện nay: ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh (theo Văn bản uỷ quyền ngày 31/3/2023); có mặt.

    2. Ông Nguyễn Tấn Đ, sinh năm 1962, bà Vũ Thị H2, sinh năm 1965, cùng nơi cư trú: Tổ H ấp B, xã H, huyện C, tỉnh Tây Ninh; có mặt.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

    1. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1961; nơi cư trú: Khu phố A, phường B, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

    2. Bà Nguyễn Thị Xuân Đ1, sinh năm 1963; nơi cư trú: Khu phố C, phường A, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

    3. Bà Nguyễn Thị Xuân T1, sinh năm 1966; nơi cư trú: Tổ B, ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Tây Ninh; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

    4. Bà Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 1967; nơi cư trú: Tổ A, ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Tây Ninh; có mặt.

    5. Bà Nguyễn Thị Thanh T2, sinh năm 1969; nơi cư trú: Tổ A, ấp T, xã H, huyện C, Tây Ninh; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

    6. Bà Nguyễn Thị Cẩm H3, sinh năm 1971; nơi cư trú: Tổ A, ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Tây Ninh; có mặt.

    7. Ông Nguyễn Hiếu T3, sinh năm 1973; nơi cư trú: Khu phố A, phường B, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

    8. Ông Nguyễn Hiếu N, sinh năm 1977; nơi cư trú: Khu phố A, phường B, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.

    9. Ông Nguyễn Hiếu H4, sinh năm 1981; nơi cư trú: Tổ A, ấp T, H, C, tỉnh Tây Ninh; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

    10. Cháu Võ Chí N1, sinh năm 2008; anh Võ Trọng N2, sinh năm 2015; Cùng nơi cư trú: Tổ A, ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Tây Ninh.

      Người đại diện hợp pháp của cháu N2: ông Võ Chí H5 (cha ruột), sinh năm 1976; nơi cư trú: ấp S, xã A, huyện C, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt.

    11. Ông Đinh Trọng T4, sinh năm 1977; nơi cư trú: ấp B, xã H, huyện C, tỉnh Tây Ninh; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt

  4. Người kháng cáo: bà Lê Thị K – nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 15 tháng 02 năm 2023 và đơn khởi kiện bổ sung ngày 19 tháng 3 năm 2024 của nguyên đơn bà Lê Thị K và quá trình giải quyết vụ án người đại diện hợp của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh H trình bày:

Nguồn gốc đất tranh chấp là của bà K được cho từ cha mẹ ruột của bà từ trước năm 1975, cho không có giấy tờ, bà K và chồng là ông L sử dụng trồng lúa, có một thời gian cho người khác thuê trồng mía, trồng mì nhưng cho thuê năm nào bà không nhớ, đất của gia đình bà chạy dài từ đầu giáp ranh đất ông S đến đầu gò giáp ranh đất bà 8 Nghì, Bàu Đu Đ2 chạy thẳng lên phía giáp ranh đất ông H1 đang sử dụng ngang qua mương, gia đình bà quản lý sử dụng đất mà chưa có điều kiện để xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt là GCNQSDĐ) diện tích đất bao nhiêu bà không rõ. Sau khi bà yêu cầu đo đạc và căn cứ vào kết quả đo đạc thực tế, bà H đại diện bà K xác định ông H1 đã chiếm diện tích 2.390,3 m² + 73,4 m², tổng cộng 2.463,7 m² thửa 229, 221, tờ bản đồ 41; vợ chồng ông Đ, bà H2 đã chiếm diện tích 1.327,6 m² thửa 210, tờ bản đồ 41, đất toạ lạc tại ấp B, xã H, huyện C, tỉnh Tây Ninh.

Nay bà K khởi kiện yêu cầu ông H1, ông Đ, bà H2 trả cho gia đình bà K diện tích nêu trên.

Bị đơn ông Nguyễn Tấn H1 thông qua người đại diện hợp pháp ông Nguyễn Tấn Đ trình bày:

Không đồng ý với trình bày của bà H, phần đất bà K (mẹ bà H) tranh chấp với ông H1 là do ông H1 nhận sang nhượng từ ông Phạm Văn Đ3 vào năm 2010 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt là GCNQSDĐ) diện tích 4.010 m² thửa số 349, tờ bản đồ số 10 theo GCNQSDĐ số CH00452/005853.CN.VP do Uỷ ban nhân dân (UBND) huyện C cấp ngày 31/12/2010 cho Nguyễn Tấn H1, ông H1 sử dụng đất trồng cây dừa từ năm 2010 đến năm 2021 thì chặt cây dừa san lấp đất bằng phẳng, khi cấp đổi GCNQSDĐ đo đạc thì tăng diện tích lên 4.840,6 m² khi ký tứ cận đất thì bà K tranh chấp cho rằng ông H1 lấn đất bà K khoảng 3000 m². Ông H1 cho rằng ông sử dụng đất đúng vị trí, hai bên có ranh giới rõ ràng, đất ông sử dụng dù tăng diện tích thực tế so với GCNQSDĐ nhưng vẫn nằm trong thửa không lấn qua đất bà K, bà K không có giấy tờ chứng minh nguồn gốc đất và cũng không quản lý sử dụng đất, khi chỉ ranh đất bà không xác định được đất bà sử dụng vị trí nào, sau khi có kết quả đo đạc của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T – Chi nhánh C thì bà K lại yêu cầu ông H1 trả bà diện tích là 2.463,7 m² là không hợp lý. Ông H1 không đồng ý yêu cầu khởi kiện của bà K.

Bị đơn ông Nguyễn Tấn Đ, bà Vũ Thị H2 thống nhất trình bày:

Đối với yêu cầu khởi kiện của bà K cho rằng vợ chồng ông Đ, bà H2 chiếm đất của bà diện tích 1.327,6 m² thuộc thửa số 210, tờ bản đồ 41 đất tọa lạc tại ấp B, xã H, huyện C, tỉnh Tây Ninh là không cơ sở, vì đất này ông Đ nhận sang nhượng đất của bà M (đã chết) vào năm 2010, vợ chồng ông bà đã sử dụng đất ổn định và làm hàng rào kẽm gai ngăn cách với đất của gia đình bà K, hiện nay đã nhận cọc sang nhượng giấy tay cho ông T4 thoả thuận giá chuyển nhượng 880.000.000 đồng, đã nhận tiền đặt cọc 530.000.000 đồng, ông T4 đang sử dụng đất nhưng do tranh chấp nên hai bên chưa sang tên được, nay bà K tranh chấp ông bà không đồng ý vì không lấn chiếm đất của gia đình bà K.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm bà Nguyễn Thị T, bà Nguyễn Thị Xuân Đ1, bà Nguyễn Thị Xuân T1, bà Nguyễn Thị Thanh T2, bà Nguyễn Thị Thanh H, bà Nguyễn Thị Thanh T2, bà Nguyễn Thị Cẩm H3,ông Nguyễn Hiếu T3, ông Nguyễn Hiếu N, ông Nguyễn Hiếu H4 thống nhất trình bày:

Cha của các ông bà là ông Nguyễn Hiếu L, sinh năm 1943; (chết ngày 26/7/2013); mẹ tên Lê Thị K, sinh năm 1941, hiện sống tại xã H, huyện C, tỉnh Tây Ninh.

Nguồn gốc đất tranh chấp với ông H1, ông Đ là của bà K được cha mẹ cho. Vợ chồng bà K, ông L sử dụng và kê khai trong Sổ mục kê của xã H. Quá trình sử dụng đất hàng năm đều đóng thuế nông nghiệp, cho tới khi nhà nước có chính sách miễn thuế thì không phải đóng, giấy tờ đóng thuế gia đình không còn giữ, nhưng ở địa phương ai cũng biết. Bà Kim K1 yêu cầu ông H1 trả diện tích như bà H trình bày nêu trên là đúng, do đất rộng nên gia đình không đo đạc được diện tích cụ thể, đất chưa có GCNQSDĐ nên không biết cụ thể diện tích bao nhiêu, mà chỉ nhắm từ Bào Đu Đủ đến đất bà Tám N3. Các ông, bà là con ruột của bà K, ông L thống nhất yêu cầu khởi kiện của bà K.

Ông Võ Chí H5 là người đại diện hợp pháp cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Võ Chí N1, anh Võ Trọng N2 vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đinh Trọng T4 trình bày tại biên bản lấy lời khai:

Năm 2022, ông T4 và ông Đ, bà H2 có giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Đ phần đất diện tích 2.620 m² gồm có 4 thửa: 1409; 1408; 1410; 1411, tờ bản đồ số 10 (299) tại ấp B, xã H, huyện C, tỉnh Tây Ninh, giá chuyển nhượng 880.000.000 đồng, đã đặt cọc 550.000.000 đồng, còn lại 330.000.000 đồng khi xong thủ tục chuyển nhượng thì giao số tiền còn lại, hiện nay ông T4 đang sử dụng đất nhưng chưa sang tên được vì bà K cho rằng ông Đ lấn đất của bà K và khởi kiện đến Toà án. Trong vụ án tranh chấp giữa bà K và ông Đ, bà H2, ông T4 không có ý kiến, giao dịch giữa ông Đ và ông T4, ông không tranh chấp, không yêu cầu Toà án xem xét.

* Tại Bản án Dân sự sơ thẩm số 138/2024/DS-ST ngày 23 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh đã quyết định;

Căn cứ các điều 158, 166, 175, 176, 221 của Bộ luật Dân sự; Điều 166, Điều 203 của Luật Đất đai; các điều 19, 29 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 của Chính Phủ: quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai; Điều 11 của Thông tư số 25/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ T5; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016; về “...án phí và lệ phí Tòa án”.

- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện “Tranh chấp quyền sử dụng đất” của bà Lê Thị K với ông Nguyễn Tấn H1 đối với phần đất có diện tích 2.463,7 m² thuộc thửa 229, 221 tờ bản đồ 41 (Bản đồ 2010); Ông Nguyễn Tấn Đ, bà Vũ Thị H2 đối với phần đất diện tích 1.327,6 m² thửa 210 tờ bản đồ 41 (Bản đồ 2010), tọa lạc tại ấp B, xã H, huyện C, tỉnh Tây Ninh (Kèm theo sơ đồ đo vẽ số 10279/SĐHT ngày 23/11/2023).

- Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo theo luật định.

- Ngày 04/9/2024, bà Lê Thị K kháng cáo yêu cầu chấp nhận khởi kiện của bà.

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bà H5 (đại diện cho bà K) trình bày: giữ nguyên yêu cầu kháng cáo của bà K.

Ông Đ trình bày: không chấp nhận kháng cáo của bà K.

* Phần tranh luận:

Bà H5 trình bày: đất ông H1 từ 4.000 m² nay đo đạc thực tế là 6.000 m², ông H1 nói mua của ông Đ3. Tuy nhiên, đất này nguồn gốc là của bà H2 bán cho ông H6, ông H6 bán cho ông Đ3 diện tích chỉ 4.000 m², nên phần đất thừa là của bà K mặc dù bà K không có giấy tờ nhưng cha mẹ bà có canh tác đất này một thời gian, sau này do già yếu không canh tác nữa nên ông H1 mới lấn chiếm.

Chứng cứ: tất cả người dân sống ở khu vực đều biết đất này của bà K.

Ông Đ trình bày: anh em ông và ông H1 không có lấn chiếm đất bà K, khi mua đất theo bản đồ cũ nên diện tích không đúng so với bản đồ mới nhưng vẫn chung một thửa, năm 2010 anh em ông có xây dựng làm hàng rào ranh quanh đất bên bà K không phản đối gì, nay ông và ông H1 xin cấp đất lại theo bản đồ mới nhờ bà ký tên chủ giáp ranh thì bà nói anh em ông lấn đất, nhưng ra hiện trạng thì bà K và bà H5 không biết ranh đất tới đâu.

Bà H5 trình bày: diện tích đất thực tế của ông H1, ông Đ tăng so với GCNQSDĐ được cấp, nên phần diện tích thừa là của bà K.

* Ý kiến của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh:

Về tố tụng: việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định pháp luật.

Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; không chấp nhận kháng cáo của bà K; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến Đại diện Viện Kiểm sát, xét kháng cáo của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Nguyên đơn bà Lê Thị K kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn luật định, phù hợp tại các điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Toà án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về nội dung: bà K khởi kiện ông H1, ông Đ đòi quyền sử dụng đất, bà cho rằng ông H1 đã chiếm diện tích 2.390,3 m² + 73,4 m², tổng cộng 2.463,7 m² thửa 229, 221, tờ bản đồ 41; vợ chồng ông Đ, bà H2 đã lấn chiếm diện tích 1.327,6 m² thửa 210. Ông H1, ông Đ không thừa nhận.

[3] Xét kháng cáo của bà K thấy rằng:

[3.1] Về chứng cứ: bà H5 đại diện bà K xác định, ông L, bà K (cha mẹ bà) sử dụng diện tích cụ thể bao nhiêu bà không nhớ. Đất tranh chấp giáp ranh với nhiều thửa đất của bà nhưng gia đình bà K không kê khai đăng ký, không sử dụng đất. Trong khi bị đơn là người trực tiếp sử dụng đất. Qua xác minh Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T – Chi nhánh C theo Sổ mục kê năm 2010 lưu tại văn phòng các phần đất toạ lạc tại ấp B, xã H, huyện C, tỉnh Tây Ninh thể hiện:

  • - Ông Nguyễn Tấn H1 đăng ký các thửa số 1525 tờ bản đồ số 10/299 (tương ứng với thửa số 221, tờ bản đồ số 41/2010), diện tích 1055 m² và thửa số 1527, (tương ứng với thửa số 229, tờ bản đồ số 41) diện tích 3750 m².
  • - Ông Nguyễn Tấn Đ đăng ký các thửa 1529, diện tích 600 m² và thửa 3908, tờ bản đồ 10/299 diện tích 730 m² (tương ứng với thửa số 210, tờ số 41/2010).
  • - Ông Nguyễn Hiếu L (chồng bà K) kê khai, đăng ký các thửa đất sau: 1528, 1530, 1533, 1534, 1890, 1891, 1892 tờ bản đồ số 10/299 (tương ứng các thửa 190, 202, 211, 220, 241, 248 tờ bản đồ 41/2010) và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

[3.2] Như vậy, gia đình bà K (chồng là ông L) không kê khai, đăng ký đối với diện tích các thửa đất tranh chấp và cũng không trực tiếp quản lý, sử dụng đất, trong khi phần đất tranh chấp do ông H1, ông Đ và bà H2 đã được kê khai, đăng ký có số thửa rõ ràng và canh tác sử dụng ổn định cho đến khi xảy ra tranh chấp. Theo kết quả đo đạc cụ thể diện tích đất ông H1, ông Đ và bà H2 hiện trạng có biến động tăng diện tích nhưng vẫn đúng theo ranh bản đồ địa chính. Ngoài ra, ranh giới đất giữa của ông H1, ông Đ, bà H2 với đất của gia đình bà K có hàng rào kẽm gai, trụ xi măng và bờ mương nước ngăn cách nhau. Do đó, cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của bà K đòi ông H1, ông Đ, bà H2 trả lại quyền sử dụng đất tại các thửa nêu trên là có căn cứ. Bà K kháng cáo nhưng không cung cấp thêm chứng cứ có tính thuyết phục nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: bà K được miễn theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.

[5] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh là có căn cứ chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Không chấp nhận kháng cáo của bà Lê Thị K;
  • Giữ nguyên Bản án Dân sự sơ thẩm số 138/2024/DS-ST ngày 23 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.

Căn cứ điều 166, 175, 176 của Bộ luật Dân sự; Điều 166, Điều 203 của Luật Đất đai; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện “Tranh chấp quyền sử dụng đất” của bà Lê Thị K với ông Nguyễn Tấn H1 đối với phần đất có diện tích 2.463,7 m² thuộc thửa 229, 221 tờ bản đồ 41 (2010); ông Nguyễn Tấn Đ, bà Vũ Thị H2 đối với phần đất diện tích 1.327,6 m² thửa 210 tờ bản đồ 41 (2010), tọa lạc tại ấp B, xã H, huyện C, tỉnh Tây Ninh (theo sơ đồ đo vẽ số 10279/SĐHT ngày 23/11/2023).

  2. Về chi phí tố tụng: bà Lê Thị Kim P chịu số tiền 6.242.000 đồng; ghi nhận đã nộp thanh toán xong.

  3. Về án phí dân sự sơ thẩm, phúc thẩm: bà Lê Thị K được miễn.

  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TANDCC tại TPHCM;
  • - VKSNDCC tại TPHCM;
  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - TAND huyện Châu Thành;
  • - CCTHADS huyện Châu Thành;
  • - Phòng Kiểm tra nghiệp vụ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu tập án;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Tâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 582/2024/DS-PT ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 582/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp QSDĐ giữa bà k Với ông H, ông Đ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger