TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 582/2023/HS-PT Ngày: 04/12/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Trần Quốc Cường
Các Thẩm phán: ông Nguyễn Văn Tiến
ông Đinh Phước Hoà
Thư ký phiên tòa: bà Đoàn Thị Thu Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng: ông Đặng Thọ Định - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Vào ngày 04 tháng 12 năm 2023 tại điểm cầu trung tâm: trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng và điểm cầu thành phần: trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình. Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 561/2023/TLPT-HS ngày 01 tháng 11 năm 2023 đối với các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Thị K về tội “Vận chuyển hàng cấm”.
Do có kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Thị K đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 57/2023/HS-ST ngày 23/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 146/2023/QĐXXPT-HS ngày 01 tháng 11 năm 2023.
- Các bị cáo kháng cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn H, sinh ngày 01/10/1995 tại tỉnh Quảng Trị; nơi cư trú: thôn L, xã T, huyện H, tỉnh Quảng Trị; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: nam; trình độ văn hoá: 12/12; nghề nghiệp: lái xe; con ông Nguyễn Văn K1 và con bà Lê Thị G; tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân:
Bản án hình sự sơ thẩm số: 83/2023/HSST ngày 19/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử và xử phạt Nguyễn Văn H 12 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và 03 năm tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
Ngày 28/10/2022 bị cáo bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ khởi tố về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” (ngày 14/9/2023 Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng mở phiên toà xét xử sơ thẩm bị cáo nhưng đã trả hồ sơ để điều tra bổ sung).
Bị cáo bị bắt giam ngày 07/6/2022, có mặt tại phiên tòa.
Họ và tên: Nguyễn Thị K, sinh ngày 06 tháng 10 năm 1975 tại tỉnh Quảng Trị; nơi cư trú: thôn L, xã T, huyện H, tỉnh Quảng Trị; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: nữ; trình độ văn hoá: 8/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Nguyễn C và con bà Võ Thị C1; có chồng tên là Hoàng Hữu T và có 02 con; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 06/6/2022 tại đường liên thôn thuộc địa phận bản C, xã K, huyện L, tỉnh Quảng Bình. Tổ công tác của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu Công an tỉnh Q phối hợp với lực lượng Hải quan tỉnh Quảng Bình bắt quả tang Nguyễn Văn H và Nguyễn Quốc T1 vận chuyển 24 kiện hàng chứa 414 hộp pháo hoa nổ bằng xe ô tô BKS 51A-838.09 do Nguyễn Văn H điều khiển.
Tại Bản giám định số 678/KL-KTHS ngày 13/6/2022 của Phòng K3 Công an tỉnh Q kết luận: mẫu cần giám định (414 hộp) đều là pháo nổ (loại pháo hoa nổ) có tổng khối lượng là 618,4 kg (trong đó hộp nhỏ nhất có khối lượng 1,4kg; hộp lớn nhất có khối lượng 2,4kg). Tại thời điểm bắt quả tang, H đang bốc một số thùng pháo xuống lề đường để giao hàng, trên xe ô tô có Nguyễn Quốc T1 ngồi bên ghế phụ. Qua đấu tranh xác định: Nguyễn Quốc T1 được Nguyễn Văn H thuê phụ lái xe để chở hàng thuê (hàng tươi sống), T1 không biết H vận chuyển pháo nổ nên được trả tự do ngay sau đó.
Về nguồn gốc số pháo nổ:
Căn cứ kết quả thu giữ, trích xuất dữ liệu tin nhắn, lịch sử cuộc gọi đi, đến của số điện thoại 0339.221.xxx (tên chủ thuê bao Hoàng Hữu T, sinh ngày 14/02/1970; trú tại: thôn L, xã T, huyện H - là chồng của Nguyễn Thị K) với số điện thoại 0974.141.xxx (tên chủ thuê bao Nguyễn Văn H) thể hiện:
Từ ngày 01/6/2022 đến ngày 06/6/2022 giữa hai số điện thoại trên có 54 tin nhắn và 07 cuộc gọi đi, đến. Kết quả giám định, trích xuất dữ liệu tin nhắn từ điện thoại di động thu giữ của Nguyễn Văn H thể hiện: từ ngày 01/6/2022 đến ngày 06/6/2022, giữa hai số điện thoại 0974.141.xxx (do Nguyễn Văn H sử dụng) và số điện thoại 0339.221.xxx (do Nguyễn Thị K sử dụng) có nội dung tin nhắn thỏa thuận thuê H chở hàng, trong đó: Kiều nhắn: “6 kiện 20 triệu được không”?; H nhắn lại: “Chở hàng này mà O cháu không nhận mô, 1 thùng Kiều 4 triệu và đi 7 thùng trở lên, không phải cu khó mà cái việc này làm khó”; Kiều nhắn: “7 kiện 3.500.000 đồng được không”?. Hoành nhắn lại: “7 thùng 28 triệu, cháu bớt O 1 triệu còn 27 triệu; thôi O lâu lâu đi cháu chốt giảm thêm 1triệu còn 26 triệu”. Trong nội dung tin nhắn, H yêu cầu K đóng kỹ hàng vào bao màu đen và chuyển khoản trước 04 triệu đồng vào số tài khoản 106001215802 V mang tên Nguyễn Văn H để H cọc xe (đặt cọc để thuê xe). Sáng ngày 06/6/2022 Nguyễn Thị K nhờ bà Hoàng Thị C2 (sinh năm 1986; trú tại: thôn L, xã T, huyện H, Quảng Trị) chuyển khoản 04 triệu đồng vào số tài khoản 106001215802 Ngân hàng V mang tên Nguyễn Văn H có nội dung “Kiều ck (chuyển khoản)”.
Để có xe ô tô vận chuyển pháo nổ, ngày 05/6/2022 Nguyễn Văn H nhờ Nguyễn Quốc T1 Hợp đồng thuê xe ô tô BKS 51A-838.09 với ông Lê Đức S tại địa chỉ: A X, phường H, quận H, Thành phố Đà Nẵng với giá 900.000đ/ngày, tiền cọc đặt trước 4.000.000 đồng (do Nguyễn Văn H chuyển khoản) và thuê T1 đi phụ xe để chở hàng tươi sống cho H. Trưa ngày 06/6/2022, Nguyễn Văn H điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 51A-838.09 chở Nguyễn Quốc T1 đến bãi đất trống gần Trường THCS T4, huyện H, Quảng Trị để nhận pháo theo thỏa thuận qua điện thoại với Nguyễn Thị Kiều . Tại đây, H tự bốc 10 kiện hàng chứa pháo nổ lên xe, còn K đứng cách xe khoảng 02m để quan sát việc bốc hàng. T1 vẫn ngồi ở ghế phụ của xe ô tô và nhìn thấy Hoành bốc xếp các kiện hàng được bọc kín bằng ni lon màu đen. Khi xe chạy, H nói hàng trên xe là của hai người, một người tên K, còn người kia H không nói của ai. Khi nhận hàng, Nguyễn Văn H thấy có kiện to, kiện nhỏ ước tính tương đương 07 kiện nên H không tăng tiền vận chuyển với K. Nguyễn Thị K khai nguồn gốc số pháo nổ là của người đàn ông không rõ địa chỉ mà K gặp ở khu vực chợ C4 xã T, huyện H, tỉnh Quảng Trị. Người này hứa trả cho K 01 triệu đồng để tìm thuê xe vận chuyển với giá thuê do người đó đưa ra để K nhắn tin trao đổi với H.
Cũng vào trưa ngày 06/6/2022, trước khi nhận 10 kiện hàng chứa pháo nổ của Nguyễn Thị K, Nguyễn Văn H đã điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 51A-838.09 chở Nguyễn Quốc T1 đến khu vực đường liên thôn gần nhà của H tại xã T, huyện H, tỉnh Quảng Trị nhận 14 kiện hàng chứa pháo nổ do một người đàn ông không rõ địa chỉ giao. Hoành bốc 14 kiện hàng lên xe ô tô để một vị trí riêng, sau đó H bốc tiếp 10 kiện hàng của Nguyễn Thị K (như đã nêu trên) để vào vị trí riêng để phân biệt. Tuy nhiên khi bốc hàng xuống xe đã bị xáo trộn vị trí. Do đó, khối lượng pháo nổ mà Nguyễn Thị K thuê H vận chuyển được tính: lấy hộp pháo nhỏ nhất theo giám định là 1,4 kg nhân với số lượng 07 kiện theo thỏa thuận trong tin nhắn giữa K và H sẽ là 9,8 kg.
Theo lời khai của Nguyễn Văn H về nguồn gốc của 14 kiện pháo nổ còn lại là của O T2 (người phụ nữ ở cùng thôn với H, qua xác minh có tên Đoàn Thị Diễm T3, sinh năm 1976; trú tại: thôn L, xã T, huyện H, tỉnh Quảng Trị) thuê H vận chuyển với giá 45 triệu đồng. Khi giao hàng, H đã nhận số tiền cọc 04 triệu đồng do người đàn ông giao hàng đưa. Qua xác minh số điện thoại 0565.956.xxx mà H đã liên lạc với O T thì chủ thuê bao tên Đinh Văn K2, sinh năm 2001; trú tại: C, phường C, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng. Qua sao kê giao dịch số tài khoản 106001215802 của Nguyễn Văn H mở tại V thể hiện: từ 25/3/2022 đến 31/5/2022 Đoàn Thị Diễm T3 chuyển khoản cho Nguyễn Văn H nhiều lần, tổng số tiền đã chuyển là 80 triệu đồng. T3 khai đây là tiền T3 cho H mượn và một số người khác nhờ chuyển hộ cho H, số tiền H mượn đã được Hoành trả hết bằng tiền mặt. Kết quả giám định trích xuất dữ liệu từ điện thoại Samsung Galaxy A32 của Nguyễn Văn H tại mục “photos” có hình ảnh tin nhắn messeger với tài khoản facebook “Đoàn”: “O cho con lấy tiền cước 20 triệu trước con chuyển cho họ nghe” và được trả lời: “ừ xóa hết tin nhắn đi nghe”. Tuy nhiên, H khai không nhớ tài khoản này của ai và T3 cũng không thừa nhận đó là tài khoản của T3. Do đó, không đủ cơ sở để kết luận số pháo nổ là của Đoàn Thị Diễm T3.
Về nguồn gốc phương tiện vận chuyển pháo nổ:
Xe ô tô biển kiểm soát 51A-838.09 nhãn hiệu HUYNDAI đăng ký mang tên Công ty TNHH C5 - Chi nhánh tại Thành phố Hồ Chí Minh do ông Bùi Viễn C3, sinh năm 1958; trú tại: số B Trung tâm Thương mại, Phường G, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu làm Giám đốc. Xe ô tô đã được Công ty thế chấp cho Ngân hàng TMCP S1, Chi nhánh V1 vào ngày 25/4/2014 để vay vốn và hiện đang có dư nợ xấu. Tổng tiền gốc và lãi Công ty còn nợ Ngân hàng đến ngày 03/4/2023 là 254.454.621 đồng. ông Bùi Viễn C3 đã bán nhà và đi khỏi địa phương từ cuối năm 2017, hiện nay không biết ông C3 làm gì, ở đâu. Tuy nhiên, xe ô tô này lại do ông Trần Văn Đ; trú tại: tổ I, phường M, quận N, thành phố Đà Nẵng quản lý sử dụng thông qua Hợp đồng dịch vụ ký gửi xe ô tô giữa ông Đ với cá nhân ông Bùi Viễn C3 lập ngày 15/4/2020 với thời hạn 05 năm (đến 15/4/2025), giá trị Hợp đồng 500.000.000 đồng. Sau đó, ông Trần Văn Đ giao xe cho ông Lê Đức S quản lý, sử dụng thông qua Hợp đồng ủy quyền ký ngày 17/02/2022. ông Lê Đức S đã cho Nguyễn Quốc T1 thuê xe vào ngày 05/6/2022.
Với nội dung nêu trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 57/2023/HS-ST ngày 23-9-2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình đã quyết định:
Về tội danh: tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H và Nguyễn Thị K phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
Về hình phạt:
Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 191; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam, ngày 07/6/2022. Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Văn H với thời hạn 45 (bốn mươi lăm) ngày để đảm bảo cho việc thi hành án, theo quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị K 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 02/10/2023 các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Thị K kháng cáo bản án sơ thâm xin giảm nhẹ hình phạt (bị cáo K xin hưởng án treo).
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Nguyễn Văn H trình bày tự nguyện rút toàn bộ kháng cáo. Bị cáo Nguyễn Thị K trình bày giữ nguyên kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng phát biểu: tại phiên toà xét xử phúc thẩm hôm nay, bị cáo Nguyễn Văn H trình bày tự nguyện rút toàn bộ kháng cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo H. Đối với kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị K: Toà án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Thị K về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự và xử phạt bị cáo K 06 tháng tù là có căn cứ đúng tội, đúng pháp luật. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị K, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bị cáo Nguyễn Thị Kiều t tụng: bị cáo thấy được hành vi vi phạm của mình. Bị cáo có hoàn cảnh rất khó khăn, con nhỏ, là lao động chính, nhất thời phạm tội. Mong Hội đồng xét xử phúc thẩm cho bị cáo hưởng án treo để lo cho gia đình.
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Ngày 02/10/2023 các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Thị K kháng cáo Bản án hình sự sơ thẩm số 57/2023/HS-ST ngày 23-9-2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bìnhxin giảm nhẹ hình phạt (bị cáo K xin hưởng án treo). Như vậy, kháng cáo của các bị cáo là trong thời hạn luật định. Do vậy, Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn H trình bày tự nguyện rút toàn bộ kháng cáo. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 348 Bộ luật Tố tụng hình sự, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn H.
Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị K:
Hành vi phạm tội của bị cáo:
Quá trình tố tụng tại cấp sơ thẩm bị cáo Nguyễn Thị K không thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình. Tại phiên toà xét xử phúc thẩm hôm nay, bị cáo Nguyễn Thị K nhận tội, thể hiện: bị cáo có thuê bị cáo Nguyễn Văn H vận chuyển 07 hộp pháo hoa nổ trong tổng số 414 hộp pháo nổ bằng xe ô tô BKS 51A-838.09 do Nguyễn Văn H điều khiển thì bị Tổ công tác của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu Công an tỉnh Q phối hợp với lực lượng Hải quan tỉnh Quảng Bình bắt quả tang lúc khoảng 14 giờ 30 phút ngày 06/6/2022 tại đường liên thôn thuộc địa phận bản C, xã K, huyện L, tỉnh Quảng Bình. Kết quả giám định 07 hộp pháo hoa nổ của bị cáo có khối lượng là 9,8kg.
Như vậy, lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Thị K phù hợp với lời khai của bị cáo Nguyễn Văn H tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng; phù hợp với bản Kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử phúc thẩm có căn cứ khẳng định: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Thị K về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội.
Về điều luật áp dụng và mức hình phạt đối với bị cáo:
Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thị K là nguy hiểm cho xã hội. Cố ý trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước đối với các loại hàng cấm, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trị an, trật tự an toàn xã hội tại địa phương.
Tòa án cấp sơ thẩm đã phân tích về tính chất hành vi phạm tội, vai trò thực hiện tội phạm, hậu quả, nhân thân và áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là đúng pháp luật. Mặc dù tại phiên toà phúc thẩm hôm nay bị cáo K nhận tội và bị xét xử theo khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự là tội phạm ít nghiêm trọng, nhưng trước đó bị cáo không nhận tội gây khó khăn trong quá trình tố tụng. Mức hình phạt 06 (sáu) tháng tù mà Toà án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo K là có căn cứ, không nặng.
Với những nội dung đã được phân tích nêu trên. Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Kiều . Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Án phí hình sự phúc thẩm: các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Thị K phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 348 Bộ luật Tố tụng hình sự, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn H.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị K, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Về tội danh: tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị K phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
Về hình phạt: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị K 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
Án phí hình sự phúc thẩm: Nguyễn Văn H, Nguyễn Thị K mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Thành viên Hội đồng xét xử | Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa |
| (Đã ký) | (Đã ký) |
Nguyễn Văn Tiến Đinh Phước Hoà | Trần Quốc Cường |
Bản án số 582/2023/HS-PT ngày 04/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG về vận chuyển hàng cấm
- Số bản án: 582/2023/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vận chuyển hàng cấm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 04/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Áp dụng Điều 348 Bộ luật Tố tụng hình sự, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn H. 2. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị K, giữ nguyên bản án sơ thẩm. 3. Về tội danh: tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị K phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”. 4. Về hình phạt: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị K 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
