Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 581/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 20/3/2025.

Về việc “Ly hôn”.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Danh Đời.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Võ Thị Gái;

Ông Cao Quốc Hưng.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Kim Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 20 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai Vụ án dân sự sơ thẩm số: 117/2025/TLST-HNGĐ ngày 20/01/2025 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 2203/2025/QĐXXST-DS ngày 07/3/2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1997. Địa chỉ: xã T, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh, (xin vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Nguyễn Quang T, sinh năm 1992. Địa chỉ: 1 Đường C, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, (xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo nội dung Đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn bà Nguyễn Thị L trình bày: Về quan hệ hôn nhân, bà L và ông Nguyễn Quang T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định và được Ủy ban nhân dân xã T, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh cấp Giấy Chứng nhận kết hôn số 29 ngày 30/8/2016. Sau khoảng thời gian chung sống, vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, sau đó hai vợ chồng sống ly thân. Bà L xác nhận hiện nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Nguyễn Quang T.

Về con chung: Bà L khai bà và ông T có 02 người con chung sinh đôi tên Nguyễn Quang Tuấn P (sinh ngày 28/11/2017) và Nguyễn Quang Tuấn P1 (sinh ngày 28/11/2017). Bà L yêu cầu Tòa án giao cho ông T quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục hai con chung; việc cấp dưỡng do hai bên tự thỏa thuận.

Về tài sản chung: Bà L trình bày hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà L trình bày không có, không yêu cầu giải quyết.

Đồng thời, bà L có đơn yêu cầu không hòa giải đoàn tụ và đề nghị được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

- Theo nội dung bản tự khai, bị đơn ông Nguyễn Quang T trình bày: Ông T xác nhận những lời trình bày của bà L về thời điểm kết hôn, về mâu thuẫn chung của vợ chồng, về con chung, tài sản chung, nợ chung là đúng. Nay bà L yêu cầu ly hôn, ông T đồng ý ly hôn. Đồng thời, ông T cũng đồng ý yêu cầu của bà L về việc ông là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục 02 con chung Nguyễn Quang Tuấn P (sinh ngày 28/11/2017) và Nguyễn Quang Tuấn P1 (sinh ngày 28/11/2017); hai bên tự thỏa thuận cấp dưỡng cho con; ông cũng thống nhất không yêu cầu giải quyết về tài sản, hai bên không có nợ chung. Ông T cũng yêu cầu được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải đoàn tụ.

- Theo nội dung bản tự khai, hai cháu Nguyễn Quang Tuấn P (sinh ngày 28/11/2017) và Nguyễn Quang Tuấn P1 (sinh ngày 28/11/2017) thống nhất trình bày: Trường hợp cha mẹ hai cháu không còn sống chung với nhau, hai cháu có nguyện vọng được sống cùng cha. Ngoài ra, cháu không có ý kiến nào khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền thụ lý, giải quyết vụ án: Xét thấy, nguyên đơn - bà Nguyễn Thị L khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn - ông Nguyễn Quang T, do đó căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì quan hệ tranh chấp trong vụ án là tranh chấp “Ly hôn”. Bị đơn có địa chỉ cư ngụ tại thành phố T nên căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.
  2. [2] Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án không tiến hành thu thập chứng cứ nên vụ án thuộc trường hợp Viện kiểm sát không tham gia phiên tòa sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

    - Do nguyên đơn và bị đơn đều có đề nghị vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết, yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải nên vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

  3. [3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:

    - Về quan hệ hôn nhân: Qua lời trình bày của hai bên cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định nguyên đơn và bị đơn là vợ chồng có đăng ký kết hôn theo Giấy Chứng nhận kết hôn số 29 đăng ký ngày 30/8/2016 tại Ủy ban nhân dân xã T, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh. Tại thời điểm đăng ký kết hôn, hai bên có đủ điều kiện kết hôn theo quy định nên quan hệ hôn nhân giữa hai bên là hôn nhân hợp pháp. Sau thời gian chung sống, hai bên phát sinh nhiều mâu thuẫn trầm trọng, nguyên đơn và bị đơn đã sống ly thân nên tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt, không có sự gắn kết; hai bên đều vi phạm về nghĩa vụ vợ chồng theo quy định. Xét thấy hai người hoàn toàn không có khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được nên nguyên đơn yêu cầu được ly hôn với bị đơn là có cơ sở. Mặt khác tại bản tự khai, bị đơn cũng đồng ý với yêu cầu ly hôn của nguyên đơn, điều đó thể hiện cả hai bên không có ý muốn đoàn tụ với nhau. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.

    - Về con chung: Theo tài liệu, chứng cứ và hai bên cùng xác nhận, nguyên đơn và bị đơn có 02 người con chung tên Nguyễn Quang Tuấn P (sinh ngày 28/11/2017) và Nguyễn Quang Tuấn P1 (sinh ngày 28/11/2017). Nguyên đơn yêu cầu sau khi ly hôn, giao 02 con chung cho bị đơn trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục và hai bên tự thỏa thuận việc cấp dưỡng cho con. Xét thấy, theo bản tự khai ghi nhận ý kiến của con chung trên 7 tuổi, hai cháu Nguyễn Quang Tuấn P và Nguyễn Quang T1 P1 đều có nguyện vọng được sống chung với cha. Đồng thời, bị đơn cũng thống nhất đồng ý với yêu cầu nêu trên của nguyên đơn, do đó Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận này của hai bên. Giao 02 con chung nêu trên cho bị đơn – ông Nguyễn Quang T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; hai bên tự thỏa thuận việc cấp dưỡng.

    - Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

  4. Về nợ chung: Hai bên xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  5. [4] Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 21, khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 4 Điều 207, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 55; Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; Điều 116 và Điều 117 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – bà Nguyễn Thị L.

    - Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị L ly hôn với ông Nguyễn Quang T.

    Quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Quang T (theo Giấy Chứng nhận kết hôn số 29, đăng ký ngày 30/8/2016 tại Ủy ban nhân dân xã T, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh) chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

    - Về con chung: Bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Quang T có 02 (hai) người con chung tên: Nguyễn Quang Tuấn P (sinh ngày 28/11/2017) và Nguyễn Quang Tuấn P1 (sinh ngày 28/11/2017). Công nhận sự thỏa thuận giữa bà L và ông T về việc giao 02 con chung nêu trên cho ông Nguyễn Quang T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục theo quy định.

    Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

    Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ này, yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

    Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được pháp luật quy định, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

    - Về cấp dưỡng: Hai bên tự thỏa thuận.

    - Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.

    - Về nợ chung: Hai bên xác định không có, không yêu cầu giải quyết.

  2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Án phí sơ thẩm về việc ly hôn là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, bà Nguyễn Thị L phải chịu nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm mà bà L đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0079120 ngày 09/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà L đã nộp đủ án phí.
  3. Về quyền, thời hạn kháng cáo: Bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Quang T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Viện kiểm sát được quyền kháng nghị bản án theo quy định pháp luật.
  4. Trường hợp quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TP.Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP. Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP.Thủ Đức;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự TP. Thủ Đức;
  • - Nơi đăng ký kết hôn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VP, hồ sơ vụ án, (Đ-Kim Anh), 12.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Danh Đời

5

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 581/2025/HNGĐ-ST ngày 20/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn

  • Số bản án: 581/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger