Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ TÂN

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 580/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 25 - 12 - 2023

“V/v tranh chấp ly hôn,

nuôi con chung"

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Ngọc Diệu

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Bà Nguyễn Thị Kim Chi
  • 2. Ông Võ Thái Quân

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Thy là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Ông Lưu Tiến Dũng – kiểm sát viên

Ngày 25 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 371/2023/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 337/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 11 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa: 275/2023/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Trần Trúng A, sinh năm 1984; địa chỉ: tổ A ấp T, xã P, huyện P, tỉnh An Giang (có đơn xin vắng mặt);
  2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1985; địa chỉ: ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang (vắng mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết, nguyên đơn ông Trần Trúng A trình bày:

Ông Trần Trúng A với bà Nguyễn Thị Mộng t tìm hiểu và đi đến hôn nhân vào năm 2008, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện P. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng về quan điểm, thường xuyên cãi vã về kinh tế trong gia đình, không tôn trọng lẫn nhau nên giữa ông A và bà M không sống chung từ năm 2018 cho đến nay, hai bên không còn liên lạc với nhau, nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt. Vì vậy, ông Trần Trúng A yêu cầu được ly hôn với bà Nguyễn Thị M.

- Về con chung: Có 02 con chung tên Trần Gia T, sinh ngày 15/5/2009 hiện đang sống với bà M; và Trần Gia B, sinh ngày 01/9/2017 hiện đang sống với ông A, khi ly hôn ông A đồng ý cho bà M tiếp tục nuôi con tên T, ông A nuôi con tên B, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là bà Nguyễn Thị M đã được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng của Tòa án như: Thông báo thụ lý vụ án nhưng vẫn không gửi văn bản nêu ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án đã triệu tập bị đơn đến tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải đến lần thứ hai và triệu tập đến tham dự phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, không rõ lí do.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng với quy định pháp luật.

- Đối với nguyên đơn: ông Trần Trúng A từ khi thụ lý vụ án, đã thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, 71, khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Đối với bị đơn: bà Nguyễn Thị M từ khi thụ lý vụ án đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do nên Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử là phù hợp Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ý kiến giải quyết vụ án: Căn cứ các Điều 56; 81; 82; 83; 84 Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Trần Trúng A đối với bà Nguyễn Thị M; về con chung: Có 02 con chung tên Trần Gia T, sinh ngày 15/5/2009; và Trần Gia B, sinh ngày 01/9/2017, thống nhất cho bà M tiếp tục nuôi con chung tên T, ông A tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên B, không phải cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Ông Trần Trúng A khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Nguyễn Thị M, về con chung yêu cầu được nuôi dưỡng nên quan hệ pháp luật của vụ án là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bà Nguyễn Thị M với tư cách là bị đơn trong vụ án có nơi cư trú tại huyện P, tỉnh An Giang nên căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.

Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng, triệu tập hợp lệ theo quy định của pháp luật, nhưng bà Nguyễn Thị M không đến tham gia phiên Tòa. Xét thấy, sự vắng mặt của bà M không làm ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà M.

[2] Về nội dung: Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa ông Trần Trúng A với bà Nguyễn Thị M là tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định nên được pháp luật công nhận và bảo vệ. Vì mâu thuẫn vợ chồng, ông A cho rằng vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tôn trọng lẫn nhau, vợ chồng thường xuyên cãi vã, nên cuộc sống chung của vợ chồng không hạnh phúc dẫn đến vợ chồng không còn sống chung từ năm 2018 cho đến nay, hôn nhân của ông, bà đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt. Vì vậy, ông Trần Trúng A có yêu cầu được ly hôn bà Nguyễn Thị M là hoàn toàn phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên HĐXX chấp nhận.

Về quan hệ con chung: Có 02 con chung tên Trần Gia T, sinh ngày 15/5/2009; và Trần Gia B, sinh ngày 01/9/2017, ông A thống nhất cho bà M tiếp tục nuôi con chung tên T, ông A tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên B, không phải cấp dưỡng nuôi con, yêu cầu nuôi con của ông A cũng phù hợp với nguyện vọng của con chung, nên Hội đồng xét xử giao Trần Gia T, sinh ngày 15/5/2009 cho bà M được tiếp tục nuôi dưỡng, giao con chung tên Trần Gia B, sinh ngày 01/9/2017 ông A được tiếp tục nuôi dưỡng, không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: không xem xét giải quyết.

[3] Qua phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật về quan điểm giải quyết vụ án nên được chấp nhận.

[4] Về án phí: Do yêu cầu của ông Trần Trúng A được chấp nhận nên phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 147, 273; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 56; 81; 82; 83; 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Trúng A, ông Trần Trúng A được ly hôn với bà Nguyễn Thị M.
  2. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 89/2017, ngày 06 tháng 9 năm 2017 do Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh An Giang cấp cho bà Nguyễn Thị M với ông Trần Trúng A không còn giá trị pháp lý.

  3. Về con chung: Có 02 con chung tên Trần Gia T, sinh ngày 15/5/2009; và Trần Gia B, sinh ngày 01/9/2017, giao con chung Trần Gia T, sinh ngày 15/5/2009 cho bà M tiếp tục nuôi dưỡng, giao con chung Trần Gia B, sinh ngày 01/9/2017 cho ông A tiếp tục nuôi, không phải cấp dưỡng nuôi con.
  4. Không bên nào được ngăn cản quyền gặp gỡ và chăm sóc con chung.

    Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

  5. Về tài sản chung, nợ chung: không xem xét giải quyết.
  6. Về án phí: ông Trần Trúng A phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng được khấu trừ từ số tiền tạm ứng án phí sang theo biên lai thu số 0006483, ngày 09/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật thị hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND huyện Phú Tân;
  • - Chi cục THADS huyện Phú Tân;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - UBND nơi đăng ký kết hôn;
  • - Lưu: HSVA.

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Ngọc Diệu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 580/2023/HNGĐ-ST ngày 25/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 580/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger