Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỘC NINH

TỈNH BÌNH PHƯỚC

Bản án số: 58/2024/DS-ST

Ngày: 30-9-2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng

đặt cọc”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC NINH, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Quyết

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Kim Phụng
  2. Ông Nguyễn Văn Ngân

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lành – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Cao Thanh Nam - Kiểm sát viên

Vào ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 135/2024/TLST – DS ngày 12 tháng 6 năm 2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2024/QĐXXST- DS ngày 12 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1982 (Có mặt)

Địa chỉ: KP . N, TT . L, huyện L, tỉnh Bình Phước

- Bị đơn: Ông Nguyễn Hữu P, sinh năm 1960 (Có mặt)

Địa chỉ: KP . N, TT . L, huyện L, tỉnh Bình Phước

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Trần Thị T, sinh năm 1965 (Có mặt)

Địa chỉ: KP N, TT . L, huyện L, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn – bà Nguyễn Thị B trình bày:

Ngày 28 tháng 8 năm 2022, bà B có ký hợp đồng đặt cọc tiền để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất với gia đình ông Nguyễn Hữu P. Thửa đất có diện tích khoảng 07m x 50m, tọa lạc tại KP . N, TT . L, huyện L, tỉnh Bình Phước, đất đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 1402QSDĐ/UB cấp ngày 13/7/2000 cho hộ ông Nguyễn Hữu P. Giá chuyển nhượng là 980.000.000đồng. Hai bên đã tiến hành ký hợp đồng đặt cọc vào ngày 28 tháng 8 năm 2022, bà B đã đặt cọc cho ông P số tiền 930.000.000đồng và thỏa thuận trong 120 ngày kể từ ngày 28 tháng 8 năm 2022 đến ngày 28 tháng 12 năm 2022, hai bên ra văn phòng công chứng ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và bà B sẽ thanh toán đủ số tiền 50.000.000đồng cho ông P. Bà B đã thực hiện đúng theo hợp đồng đặt cọc đã cho vợ chồng ông P và bà T thêm 04 tháng kể từ ngày 18/01/2024 để đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng đến nay ông P vẫn chưa đổi được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên bà B đòi lại tiền cọc thì vợ chồng ông P không đồng ý trả nên bà đã khởi kiện ra Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh. Nay bà B yêu cầu Tòa án hủy hợp đồng đặt cọc ngày 28 tháng 8 năm 2022 giữa ông Nguyễn Hữu P và Nguyễn Thị B.

Buộc ông Nguyễn Hữu P và bà Trần Thị T phải trả lại cho bà B số tiền đặt cọc là 930.000.000đồng. Bà B không yêu cầu bồi thường tiền cọc.

Tại phiên tòa, bà B xin rút phần yêu cầu ông P, bà T trả số tiền cọc 30.000.000đồng, chỉ yêu cầu ông Nguyễn Hữu P và bà Trần Thị T phải trả lại cho bà B số tiền thực tế giao nhận đặt cọc là 900.000.000đồng. Đồng thời bà B xin rút phần yêu cầu ông P, bà T trả tiền lãi của số tiền đã đặt cọc là 930.000.000đồng.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn – ông Nguyễn Hữu P trình bày:

Thời gian cụ thể thì ông P không nhớ nhưng khoảng đến năm 2022, sau nhiều lần ký kết và thỏa thuận với nhau thì gia đình ông P gồm có ông P, vợ ông P tên là Trần Thị T và con gái ông P tên là Nguyễn Thị Kim P1 có thỏa thuận đặt cọc tiền chuyển nhượng đất với bà Nguyễn Thị B. Khi đó gia đình ông P thỏa thuận bán cho bà B 07m chiều ngang thửa đất theo mặt tiền đường, với giá tiền là 140.000.000đồng/1m ngang mặt tiền, ông P đại diện gia đình đứng ra nhận tiền đặt cọc của bà B, còn con gái ông P là người làm chứng. Ông P đã thực nhận số tiền 900.000.000đồng của bà Nguyễn Thị B, 30.000.000đồng thì bà B xin bà T để lấy tiền chi phí làm Giấy chứng nhận, còn lại 50.000.000đồng sẽ thanh toán khi công chứng. Các bên thỏa thuận ông P là người chịu trách nhiệm sang sổ, mỗi bên chịu 50% chi phí tách thửa. các bên thỏa thuận đến ngày 28/12/2022 sẽ công chứng nhưng nếu đến thời gian này mà không công chứng được thì sẽ thương lượng thêm thời gian để làm thủ tục chuyển nhượng. Sau đó, do thửa đất của ông P sau khi đo đạc không đúng hiện trạng thực tế nên ông P vẫn chưa thực hiện được thủ tục đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới.

Sau đó bà B đã khởi kiện ông P thì ông P đã viết 01 văn bản thỏa thuận với bà B vào ngày 18/01/2024 tại Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh. ông P cam kết với bà B là sau 04 tháng kể từ ngày viết giấy là ngày 18/01/2024 đến ngày 18/5/2024 ông P có trách nhiệm làm thủ tục sang tên cho bà B. Tuy nhiên, sau thời gian trên ông P vẫn không thực hiện xong thủ tục đổi sổ để sang tên cho bà B.

Tại phiên tòa, ông P khẳng định giao dịch giữa ông với bà B là giao dịch đặt cọc tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất không phải giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

Nay ông P không đồng ý huỷ hợp đồng đặt cọc ngày 28/8/2022 được ký kết giữa bà B và ông P. Không đồng ý trả lại tiền cọc cho bà B. Vì ông P bán đất thì chỉ giao đất cho bà B không đồng ý trả lại tiền cọc. Ngoài ra ông P không còn ý kiến hay yêu cầu gì khác liên quan đến thỏa thuận đặt cọc và thực hiện hợp đồng đặt cọc nêu trên.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan – bà Trần Thị T trình bày:

Thời gian cụ thể thì bà T không nhớ nhưng khoảng đến năm 2022, bà B cùng 1 người bạn của bà B tên là T1 đến nhà bà T để hỏi mua đất, bà B mua 7m, còn bà T1 mua 15m. Khi đó vợ chồng bà T đồng ý bán đất cho 2 người là bà B và bà T1 có đặt tiền cọc cho vợ chồng bà T. Sau đó, do bên bà T1 bị bệnh và nói với vợ chồng bà T là không có tiền để mua đất nên trả lại 15m đất, đồng thời dồn phần tiền đã đặt cọc của 15m đất sang cho bà B để nhận chuyển nhượng 07m đất như đã thỏa thuận trong hợp đồng đặt cọc. Các hợp đồng đặt cọc trước đã hủy bỏ, chỉ còn lại 1 hợp đồng đặt cọc sau cùng được ký giữa bà B và ông P vào ngày 28/8/2022.

Sau nhiều lần thỏa thuận đặt cọc thì khi đó gia đình bà T và bà B thỏa thuận bán cho bà B 07m chiều ngang thửa đất theo mặt tiền đường, với giá tiền là 140.000.000đồng/1m ngang mặt tiền, ông P đại diện gia đình đứng ra nhận tiền đặt cọc của bà B, còn con gái bà T là người làm chứng. Tổng số tiền bà B phải thanh toán cho vợ chồng bà T sau khi chuyển nhượng là 980.000.000đồng. Trong đó vợ chồng bà T đã thực nhận số tiền 900.000.000đồng của bà Nguyễn Thị B, còn lại 50.000.000đồng bà B sẽ thanh toán khi công chứng và 30.000.000đồng thì bà B xin bà T để lấy tiền chi phí làm Giấy chứng nhận. Các bên thỏa thuận đến ngày 28/12/2022 sẽ công chứng nhưng nếu đến thời gian này mà không công chứng được thì sẽ thương lượng thêm thời gian để làm thủ tục chuyển nhượng. Sau đó, do thửa đất của bà T sau khi đo đạc không đúng hiện trạng thực tế nên bà T vẫn chưa thực hiện được thủ tục đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới.

Thời gian đầu thì bà B đã khởi kiện thì chồng bà T đã viết 01 văn bản thỏa thuận với bà B vào ngày 18/01/2024 tại Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh. Ông P cam kết với bà B là sau 04 tháng kể từ ngày viết giấy là ngày 18/01/2024 đến ngày 18/5/2024 gia đình bà T có trách nhiệm làm thủ tục sang tên cho bà B. Tuy nhiên, sau thời gian trên gia đình bà T vẫn không thực hiện xong thủ tục đổi sổ để sang tên cho bà B.

Tại phiên tòa, bà T khẳng định giao dịch giữa ông P, bà T với bà B là giao dịch đặt cọc tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất không phải giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

Nay, bà T không đồng ý hủy hợp đồng đặt cọc ngày 28/8/2022 được ký kết giữa bà B và ông P. Không đồng ý trả lại tiền cọc cho bà B. Ngoài ra bà T không còn ý kiến hay yêu cầu gì khác liên quan đến thỏa thuận đặt cọc và thực hiện hợp đồng đặt cọc nêu trên.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:

* Về việc tuân theo pháp luật tố tụng:

+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa kể từ ngày thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

* Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị B.

+ Hủy hợp đồng đặt cọc đã ký vào ngày 28 tháng 8 năm 2022 giữa ông Nguyễn Hữu P và bà Nguyễn Thị B.

+ Buộc ông Nguyễn Hữu P và bà Trần Thị Thanh T2 cho bà Nguyễn Thị B số tiền 900.000.000đồng (Chín trăm triệu đồng).

+ Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của bà B về việc buộc ông P, bà T phải trả tiền lãi của số tiền 930.000.000đồng và yêu cầu trả tiền cọc 30.000.000đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định.

[1] Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị B nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh yêu cầu hủy hợp đồng đặt cọc đã ký vào ngày 28 tháng 8 năm 2022 giữa ông Nguyễn Hữu P và bà Nguyễn Thị B. Buộc ông Nguyễn Hữu P và bà Trần Thị Thanh T2 cho bà Nguyễn Thị B số tiền 900.000.000đồng. Căn cứ yêu cầu của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xác định tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp hợp đặt cọc theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Ông Nguyễn Hữu P cư trú tại TT . L, huyện L, tỉnh Bình Phước nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị B:

Quá trình giải quyết vụ án bà B, ông P và bà T đều thống nhất khẳng định: Bà B và ông P có ký hợp đồng đặt cọc tiền để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại KP . N, TT . L, huyện L, tỉnh Bình Phước. Giá chuyển nhượng là 980.000.000đồng. Hai bên đã tiến hành ký hợp đồng đặt cọc vào ngày 28 tháng 8 năm 2022, bà B đã đặt cọc cho ông P số tiền 900.000.000đồng và thỏa thuận trong 120 ngày kể từ ngày 28 tháng 8 năm 2022 đến ngày 28 tháng 12 năm 2022, hai bên ra văn phòng công chứng ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và bà B sẽ thanh toán đủ số tiền 50.000.000đồng cho ông P.

Sau đó, do ông P không làm được thủ tục đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới nên giữa bà B và ông P đã gia hạn thêm thời gian là 04 tháng kể từ ngày 18/01/2024 đến ngày 18/5/2024 để thực hiện việc ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà B. Tuy nhiên, đến nay ông P, bà T vẫn chưa thực hiện được thủ tục xin cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới để chuyển nhượng đất cho bà B.

Tại giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả do ông Nguyễn Hữu P cung cấp, cùng hồ sơ niêm yết, hồ sơ nộp thuế đối với thửa đất của ông P thì ông P đã thực hiện đầy đủ các thủ tục có liên quan. Tuy nhiên, do diện tích đất của ông P trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và trên thực tế có biến động tăng diện tích. Đồng thời diện tích đất giáp ranh thửa đất chuyển nhượng cho bà B thì ông P đang có tranh chấp ở vụ án khác, hiện đang được Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh thụ lý, giải quyết. Do đó, ông P đến nay chưa thực hiện được thủ tục đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất chuyển nhượng cho bà B là vì chở ngại khách quan, không phải do ý chí chủ quan của ông P, bà T.

- Xét tính pháp lý của hợp đồng đặt cọc:

Về hình thức: Hợp đồng đặt cọc được lập dưới hình thức văn bản. Có thể hiện đầy đủ nội dung thỏa thuận giữa các bên. Có người làm chứng, người nhận cọc và người đặt cọc đã ký, điểm chỉ vào văn bản. Các đương sự không ai có ý kiến về hình thức của hợp đồng, chữ viết, ký tên và điểm chỉ trong hợp đồng. Hợp đồng đặt cọc không yêu cầu phải được công chứng, chứng thực. Vì vậy, về hình thức của hợp đồng là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về nội dung thỏa thuận của hợp đồng: Các đương sự đều thừa nhận sau nhiều lần thỏa thuận đặt cọc thì các bên đã chốt với nhau 01 hợp đồng đặt cọc cuối cùng là hợp đồng đặt cọc được ký giữa bà B và ông P vào ngày 28/8/2022. Nội dung trong hợp đồng các đương sự thừa nhận hoàn toàn tự nguyện thỏa thuận với nhau không bị ép buộc, lừa dối. Nội dung thể hiện các bên ký kết hợp đồng đặt cọc tiền để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Nguyễn Hữu P, nội dung thỏa thuận này không trái với pháp luật, không trái với đạo đức xã hội.

Về quyền và nghĩa vụ của các bên: Theo hợp đồng đặt cọc ngày 28 tháng 8 năm 2022, thì bà Nguyễn Thị B đặt cọc số tiền 930.000.000đồng cho ông Nguyễn Hữu P để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại KP . N, TT . L, huyện L, tỉnh Bình Phước với giá 980.000.000đồng. Trong vòng 120 ngày kể từ ngày 28 tháng 8 năm 2022 đến ngày 28 tháng 12 năm 2022 hai bên sẽ ra văn phòng công chứng ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bà Nguyễn Thị B phải thanh toán số tiền cho ông Nguyễn Hữu P là 50.000.000đồng. Trong hợp đồng có thể hiện thêm nội dung: “Nếu tới ngày giao sổ mà chưa có sổ hai bên thương lượng tiếp”.

Sau đó giữa bà B và ông P đã ký văn bản thỏa thuận gia hạn thêm thời gian là 04 tháng kể từ ngày 18/01/2024 đến ngày 18/5/2024 để ông P thực hiện việc đổi giấy chứng nhận QSDĐ và ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà bảy. Tuy nhiên, hết thời hạn trên ông Nguyễn Hữu P vẫn không làm được giấy chứng nhận sử dụng đất để chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị B. Do đó, bà B yêu cầu hủy hợp đồng đặt cọc tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ký ngày 28 tháng 8 năm 2022 với ông Nguyễn Hữu P là có cơ sở được chấp nhận.

Về giải quyết hậu quả của việc hủy hợp đồng: Tại phiên tòa bà Nguyễn Thị B chỉ yêu cầu hủy hợp đồng đặt cọc tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Yêu cầu ông Nguyễn Hữu P và bà Trần Thị T phải trả cho bà Nguyễn Thị B số tiền mà bà B đã đặt cọc cho ông P, bà T là 900.000.000đồng.

Đồng thời, bà B rút 1 phần yêu cầu khởi kiện yêu cầu ông P, bà T phải trả số tiền đặt cọc là 30.000.000đồng. Vì vậy, cần đình chỉ xét xử đối với yêu cầu này của bà B.

Bà Nguyễn Thị B có đơn sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện về yêu cầu ông P trả 1 khoản tiền tương ứng với số tiền đã đặt cọc là 930.000.000đồng. Tuy nhiên, bà B không nộp tạm ứng án phí và đã rút yêu cầu này nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị B rút yêu cầu buộc ông P, bà T phải trả tiền lãi của số tiền 930.000.000đồng, với lãi suất 1% tháng, tạm tính từ ngày 22/8/2022 cho đến ngày 22/8/2024 là 24 tháng. Với tổng số tiền là 223.200.000đồng và tiếp tục trả tiền lãi của số tiền chưa thanh toán cho đến khi thanh toán xong toàn bộ tiền cho bà B. Vì vậy, cần đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của bà B về việc buộc ông P, bà T phải trả tiền lãi của số tiền 930.000.000đồng.

Căn cứ Điều 427 bộ luật dân sự 2015 quy định:

“1. Khi hợp đồng bị hủy bỏ thì hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết, các bên không phải thực hiện nghĩa vụ đã thỏa thuận, trừ thỏa thuận về phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và thỏa thuận về giải quyết tranh chấp.

2. Các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận ....”

Do hợp Hợp đồng đặt cọc được ký kết giữa ông Nguyễn Hữu P và bà Nguyễn Thị B bị hủy bỏ nên các bên không phải thực hiện nghĩa vụ đã thỏa thuận. Các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Các đương sự đều thừa nhận người nhận tiền đặt cọc là ông Nguyễn Hữu P và bà Trần Thị T, không liên quan đến bà Nguyễn Thị Kim P1. Vì vậy, cần buộc ông Nguyễn Hữu P và bà Trần Thị Thanh T2 cho bà Nguyễn Thị B số tiền 900.000.000đồng.

[3] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong trường hợp yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận. Do ông Nguyễn Hữu P là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm. Bà T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

- Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Điều 116, Điều 274, Điều 275, Điều 328, Điều 422, Điều 423, Điều 427, Bộ luật dân sự năm 2015.

- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị B.

Hủy hợp đồng đặt cọc được ký kết vào ngày 28 tháng 8 năm 2022 giữa bà Nguyễn Thị B với ông Nguyễn Hữu P.

Buộc ông Nguyễn Hữu P và bà Trần Thị T có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị B số tiền đã nhận cọc là 900.000.000đồng.

Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của bà Nguyễn Thị B về việc buộc ông Nguyễn Hữu P và bà Trần Thị T phải trả số tiền cọc là 30.000.000đồng.

Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của bà Nguyễn Thị B về việc buộc ông Nguyễn Hữu P và bà Trần Thị T phải trả tiền lãi của số tiền 930.000.000đồng.

2/ Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Nguyễn Hữu P là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

Bà Trần Thị Thanh P2 chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 19.500.000đồng.

Bà Nguyễn Thị B không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lộc Ninh trả lại cho bà Nguyễn Thị B số tiền 22.707.000đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0006350 ngày 12/6/2024.

3/ Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày Bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp Cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong. Bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468, bộ luật dân sự 2015 trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

4/ Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

“Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Phước;
  • - VKS huyện Lộc Ninh;
  • - THADS huyện Lộc Ninh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Văn Quyết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 58/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC NINH, TỈNH BÌNH PHƯỚC về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

  • Số bản án: 58/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC NINH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: hủy hợp đồng ông P trả tiền bà B
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger