|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 58/2024/HNGĐ-ST Ngày 30-7-2024 V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Bá Cường Huy.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Ngọc Hà và ông Đào Duy Trâm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thùy Lương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện huyện Di Linh tham gia phiên tòa: Ông K’Dem – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 160/2024/TLST-HNGĐ ngày 07/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Di Linh về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 95/2024/QĐXX-TA ngày 27 tháng 6 năm 2024 của Tòa án huyện D giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Trần Thị D; sinh năm 1996.
- Địa chỉ: Số I thôn E, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.
- - Bị đơn: Anh Tô Đình T; sinh năm 1992.
- Địa chỉ: Số A thôn A, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.
Tại phiên Tòa chị D có mặt, anh T vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn, chị Trần Thị D trình bày như sau:
Về hôn nhân, chị và anh Tô Đình T sống chung có đăng ký kết hôn ngày 01/12/2013 tại U, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Sau khi cưới nhau thì vợ chồng cùng sống chung tại xã H, huyện D. Đến khoảng năm 2020 vợ chồng mâu thuẫn do khác biệt về lối sống, thường hay cải nhau, anh T có quan hệ với người khác. Đỉnh điểm là cuối năm 2022 thì vợ chồng ly thân, chị D về xã H sinh sống chung với gia đình bố mẹ ruột. Hiện nay, xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị D xin được ly hôn với anh Tô Đình T. Về nuôi con chung, vợ chồng có 02 con chung tên Tô Ngọc Bảo A; sinh ngày 28/5/2017 và Tô Nhật T1; sinh ngày 03/11/2014. Từ khi vợ chồng ly thân thì chị D là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Tô Ngọc Bảo A, anh T là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Tô Nhật T1. Khi ly hôn, vợ chồng thỏa thuận giao cháu Tô Ngọc Bảo A cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Tô Nhật T1 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Về phần tài sản. Tài sản chung không có. Tài sản riêng tự quản lý. Vợ chồng không có thỏa thuận gì về chế độ tài sản chung. Khi ly hôn không yêu cầu tòa án giải quyết về phần tài sản. Chứng cứ chứng minh là Giấy chứng nhận kết hôn, Giấy khai sinh của các con.
Bị đơn, anh Tô Đình T đã được tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý, giấy triệu tập và các thông báo, quyết định của tòa án, tuy nhiên không đến làm việc nên Tòa án không ghi được ý kiến trình bày của anh T. Trong quá trình chuẩn bị xét xử, anh T có gởi đơn yêu cầu xét xử vắng mặt và ý kiến trình bày, đồng ý ly hôn và đồng ý về việc nuôi con chung như chị D trình bày.
Tại phiên tòa chị Trần Thị D trình bày:
Giữ nguyên yêu cầu khởi kiện ban đầu, vào tháng 4/2024 thì vợ chồng đã nộp đơn thuận tình ly hôn. Tuy nhiên sau khi tòa án thụ lý thì anh T không chịu lên tòa làm việc. Vì thế Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng đã đình chỉ việc xét đơn. Chị D còn trình bày thêm, nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng là do kinh tế khó khăn, vợ chồng không có tiếng nói chung, đã có lần đánh nhau, ngoài ra anh T còn thừa nhận có quan hệ tình cảm với người khác và hiện nay anh đang chung sống như vợ chồng với người khác tại tỉnh Đắk Nông. Hiện nay chị D đang bán quán cà phê thu nhận khoảng 8.000.000₫ đến 9.000.000đ. Sức khỏe của chị bình thường, hiện nay chị không thai nghén gì cả.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh phát biểu: Thông qua kiểm sát việc giải quyết vụ án, nhận thấy Hội đồng xét xử và các đương sự đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Về nội dung tranh chấp. Đề nghị căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56; Điều 82; Điều 110; Điều 116 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị về phần án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền và quan hệ tranh chấp: Các đương sự có nơi đăng ký thường trú tại huyện D, tỉnh Lâm Đồng, tranh chấp về ly hôn. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Di Linh có thẩm quyền giải quyết là đúng quy định.
[2] Về thủ tục tố tụng: Các đương sự đã được Toà án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tại phiên tòa có mặt chị Trần Thị D, vắng mặt anh Tô Đình T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự để đảm bảo quyền lợi cho các đương sự. Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định.
[3] Nội dung tranh chấp.
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị D và anh Tô Đình T sống chung có đăng ký kết hôn ngày 01/12/2013 tại U, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Đến khoảng đầu năm 2020 vợ chồng mâu thuẫn do khác biệt về lối sống, anh T có quan hệ tình cảm với người khác, một phần là do khó khăn về kinh tế. Dẫn đến việc vợ chồng thường hay cải nhau. Đỉnh điểm là cuối năm 2022 thì vợ chồng ly thân. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn yêu thương quý trọng, lo lắng cho cuộc sống chung. Cả hai cũng không có phương án và ý định trở về đoàn tụ. Bản thân anh T cũng mong muốn ly hôn, không có ý định đoàn tụ nên đã có đơn trình bày và yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử cần xem xét giải quyết cho chị Trần Thị D và anh Tô Đình T được ly hôn là phù hợp.
[3.2] Về nuôi con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Tô Ngọc Bảo A; sinh ngày 28/5/2017 và Tô Nhật T1; sinh ngày 03/11/2014. Từ khi vợ chồng ly thân thì chị D là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Tô Ngọc Bảo A, anh T là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Tô Nhật T1. Trong quá trình giải quyết, vợ chồng có thỏa thuận giao cháu Tô Ngọc Bảo A cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Tô Nhật T1 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Xét điều kiện hoàn cảnh kinh tế của các bên và nguyện vọng của con chung. Để đảm bảo sự phát triển bình thường cho con trẻ, tránh sự xáo trộn trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày. Khi ly hôn cần giao cháu Tô Ngọc Bảo A cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Tô Nhật T1 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp.
[3.3] Về phần tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.
[4] Các vấn đề khác. Ngày 08/4/2024 Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng đã thụ lý việc xét đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn của chị Trần Thị D và anh Tô Đình T, hồ sơ thụ lý số 113/2024/TLST-HNGĐ. Tuy nhiên sau khi tòa án thụ lý thì anh T không chịu lên tòa làm việc, không tham gia hòa giải. Vì thế Tòa án đã đình chỉ việc xét đơn yêu cầu thuận tình ly hôn bằng quyết định Đình chỉ số 29/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 06/5/2024 và chuyển sang thụ lý vụ án này theo quy định tại khoản 5 Điều 397 của bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Vì thế tiền tạm ứng lệ phí Tòa án đã tạm ứng và tiền án phí dân sự sơ thẩm xin ly hôn sẽ được xem xét, giải quyết trong vụ án này.
[5] Về Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:
[5.1] Theo quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định nghĩa vụ chịu lệ phí giải quyết việc dân sự như sau:
“1. Người yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự phải chịu lệ phí sơ thẩm không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận đơn yêu cầu của họ, trừ trường hợp không phải chịu lệ phí Tòa án hoặc được miễn nộp tiền lệ phí Tòa án theo quy định của Nghị quyết này”.
Chị D và anh T không thuộc đối tượng được miễn nộp lệ phí Tòa án. Như vậy chị Trần Thị D và anh Tô Đình T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) lệ phí tòa án. Chị Trần Thị D và anh Tô Đình T đã nộp đủ theo biên lai thu tiền số 0005713 ngày 08/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.
[5.2] Theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Chị Trần Thị D phải chịu là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí xin ly hôn.
[6] Quan điểm, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 và khoản 2 Điều 143, khoản 1 Điều 144, khoản 4 Điều 147 điểm b khoản 2 Điều 227; 235 và Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- - Căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56; Điều 82; Điều 110; Điều 116 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Căn cứ vào điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27; khoản 1 và khoản 3 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khóa XIV.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị D và anh Tô Đình T được ly hôn.
- Về nuôi con chung: Giao con chung tên Tô Ngọc Bảo A; sinh ngày 28/5/2017 cho chị Trần Thị D trực tiếp nuôi dưỡng, giao con chung tên Tô Nhật T1; sinh ngày 03/11/2014 cho anh Tô Đình T trực tiếp nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung và thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo luật hôn nhân và gia đình.
Trường hợp Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về phần tài chung: Không đề cập giải quyết.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trần Thị D phải chịu là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí xin ly hôn.
- Về quyền kháng cáo: Chị Trần Thị D có mặt tại phiên Tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Tô Đình T vắng mặt tại phiên Tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Bá Cường Huy |
Bản án số 58/2024/HNGĐ-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 58/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Trần Thị D và anh Tô Đình T xin ly hôn
