|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH GIA LAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 58/2024/HS-ST Ngày 30-5-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sinh
Thẩm phán: Ông Võ Văn Bình
Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Hoàng, ông Trần Minh Đức và ông Lê Quốc Ngưu
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Linh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Đinh Trọng Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 30 - 5 - 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 26/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 02 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 135/2024/QĐXXST-HS ngày 16/5/2024 đối với bị cáo:
1. Nguyễn Văn V, sinh ngày 15/01/2002 tại A, Gia Lai. Nơi thường trú: Thôn A, xã H, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. Nơi ở: Tổ H, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Nghề nghiệp: Không. Học vấn: 9/12. Giới tính: Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1974 và bà Nguyễn Thị V1, sinh năm 1970. Bị cáo chưa có vợ.
Tiền án: 01. Ngày 07/01/2022, bị Tòa án nhân dân thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai xử phạt 02 năm tù giam, về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2022/HS-ST ngày 07/01/2022. Ngày 12/6/2023 chấp hành xong hình phạt tù (chưa xóa án tích).
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/8/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại giam Công an tỉnh G. Có mặt.
2. Đỗ Thị Kiều M, (tên gọi khác: M sói), sinh ngày 17/12/2004 tại Tp P, Gia Lai; Nơi thường trú: Tổ C, phường Đ, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Nơi ở: Tổ H, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo không; Con ông Đỗ Minh T, sinh năm: 1985 (đã chết), con bà Nguyễn Thu H1, sinh năm: 1986; Bị cáo chưa có chồng. Tiền án, tiền sự: Không.
1
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/8/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại giam Công an tỉnh G. Có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn V: Ông Lương Ngọc P – Luật sư của Văn phòng L2, Đoàn Luật sư tỉnh G. Có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Nguyễn Gia H2, sinh năm 2005; địa chỉ: Thôn A, xã P, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
Anh Nguyễn Minh T1, sinh năm 2004; địa chỉ: Tổ I, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
Anh Lê Tuyết A, sinh năm 2003; địa chỉ: Tổ I, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
Anh Hồ Duy N, sinh năm 2005; địa chỉ: Tổ I, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
Anh Phạm Ngọc L, sinh năm 2001; địa chỉ: Tổ E, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
Anh Huỳnh Ngọc T2, sinh năm 1993; địa chỉ: Tổ I, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
Chị Trần Thị T3, sinh năm 1994; địa chỉ: Tổ F, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
Chị H'Thảo H3, sinh năm 2004; địa chỉ: Tổ I, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
Anh Nguyễn Thành D, sinh năm 1999; hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã A, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
* Người làm chứng:
Anh Nguyễn Hữu L1, sinh năm 1979; địa chỉ: E Đ, phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
Chị Nguyễn Thị Ý D1, sinh năm 1996; địa chỉ: 1 L, khu H, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 15h30' ngày 05/8/2023, tại tổ B, phường T, thị xã A, tỉnh Gia Lai, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã A đã bắt quả tang Nguyễn Văn V có hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ gồm: 03 gói nilon bên trong chứa 300 viên nén màu vàng, trên viên nén có ký hiệu chữ “f”, 01 vỏ hộp bằng giấy cát tông, bên trong có dãy số “1728692194” và chữ “PocPoc shop đào/ 087***8161, 30 Anh Hùng N1, thị xã A, tỉnh Gia Lai”, 02 vỏ hộp giấy, bên ngoài nghi “Ngũ Cốc dinh dưỡng, KLT: 750g”; 02 bì nilon bên trong chứa gạo; 03 điện thoại di động; 01 xe mô tô loại sirius, biển kiểm soát 81F1-156.32; 01 ví màu đen
2
và số tiền 4.255.000 đồng (Bút lục 76-78).
Tại Kết luận giám định số 726/KL-KTHS ngày 14/8/2023 của Phòng K Công an tỉnh G kết luận: 300 viên nén màu vàng (trên viên nén có chữ “f”), trong 03 gói nilon, là ma túy, loại MDMA, tổng khối lượng 119,7996 gam (Bút lục 21).
Quá trình điều tra, Nguyễn Văn V khai nhận số ma túy đã thu giữ khi bắt quả tang Việt nêu trên là của đối tượng tên D nhờ V vận chuyển, cụ thể như sau:
Vào khoảng tháng 7/2023, V đến thị xã A, tỉnh Gia Lai làm thuê và thường đến quán K1 thuộc tổ H, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai để hát thì quen biết với Đỗ Thị Kiều M (là nhân viên của quán K1) và một người nam giới tên D và biết D có bán ma túy.
Ngày 01/8/2023, khi Nguyễn Văn V đến quán K1 thì gặp D, qua nói chuyện, D nhờ V nhận, vận chuyển gói hàng. V biết D nhờ đi nhận gói hàng là ma túy nên đồng ý. Dự cho V biết hàng sẽ tới A khoảng ngày 04 hoặc ngày 05/8/2023 và lấy số điện thoại “0879.778.xxx” mà V đang sử dụng. Đến khoảng 15 giờ ngày 05/8/2023, V đang điều khiển xe mô tô biển kiểm sát 81F1-156.32 chở Phạm Ngọc L đi trên đường thì Huỳnh Ngọc T2 là nhân viên giao hàng gọi cho V để nhận hàng. V biết là nhận gói hàng có chứa ma túy của D nên V hẹn T2 đến ngã năm gần ao cá B thuộc tổ B, phường T, thị xã A, tỉnh Gia Lai để nhận. Khi V gặp T2 nhận gói hàng có chứa ma túy và trả tiền cước 52.000 đồng thì bị Công an thị xã A bắt quả tang.
Quá trình điều tra xác định ngoài hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy bị bắt quả tang thì Nguyễn Văn V còn có hành vi mua bán trái phép chất ma túy với Đỗ Thị Kiều M vào ngày 28/7/2023, cụ thể như sau:
Vào khoảng 23 giờ ngày 27/7/2023, Nguyễn Minh T1, Nguyễn Gia H2, Lê Tuyết A và Hồ Duy N cùng nhau đi nhậu tại khu vực ngã ba Đ, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Đến khoảng 01 giờ sáng ngày 28/7/2023, sau khi nhậu xong T1, H2, Anh rủ nhau đi hát tại quán K1, tổ H, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Lúc này, do N có quen biết Đỗ Thị Kiều M là nhân viên của quán Karaoke Thượng H4 nên T1 đã mượn điện thoại của N để nhắn tin qua Zalo cho M hỏi có phòng bay không thì M nói có. T1 nhắn cho M hỏi mua một viên kẹo (ma túy dạng thuốc lắc) và một chấm khay (Ketamin). Do quen biết Nguyễn Văn V nên M nhắn hỏi V lấy một viên kẹo và một chấm khay. V đồng ý và liên lạc với D hỏi mua ma túy. Dự báo một viên kẹo và một chấm khay giá 1.400.000 đồng. V báo cho M biết, rồi M nói cho nhóm của T1 đi đến quán. Lúc này, T1, H2 và A đến quán còn N đi về. Khi nhóm của T1 đến quán K1 thì M dẫn T1 gặp V để trao đổi mua bán ma túy. Trao đổi xong nhóm của T1 đi vào phòng hát ngồi chờ. Một lúc sau thì có một người nam giới (Việt không rõ tên, nơi ở cụ thể) chạy xe máy đến trước quán Thượng H4 gọi cho V ra rồi chỉ xuống gốc cây trước quán. V đến xem thì thấy có một viên kẹo và một chấm khay được gói trong giấy vệ sinh thì cầm thả trước cửa phòng hát rồi gọi T1 lấy, khi nhận được ma túy thì T1 xin V giảm tiền. Do biết T1 là bạn của M
3
nên V đồng ý và nói T1 chỉ phải trả số tiền 1.300.000 đồng. T1 tiếp tục xin nợ tiền đến hôm sau sẽ trả, V đồng ý. Lấy ma túy xong, T1 mang vào phòng rồi cùng H2, A sử dụng. Sau khi sử dụng xong đến gần sáng thì đi về. Đến tối ngày 28/7/2023, T1 đưa cho M số tiền 1.200.000 đồng để trả tiền mua ma túy và nợ lại số tiền 100.00 đồng. M nhận tiền của T1 rồi bỏ thêm 100.000 đồng để trả cho V tổng số tiền 1.300.000 đồng. Sau khi lấy tiền bán ma túy từ M xong, V liên lạc cho D trả tiền mua ma túy thì D cho một người nam giới đến gặp V trước quán K1 lấy tiền. Ngày 06/8/2023, Đỗ Thị Kiều M ra đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình.
- Về vật chứng:
Thu giữ của Nguyễn Văn V: 119,7996 gam MDMA; 03 điện thoại di động kèm theo sim số; 01 xe mô tô loại sirius, biển kiểm soát 81F1-156.32; 01 ví màu đen đã qua sử dụng, bên trong có chữ GUCCI màu vàng và 4.255.000 đồng.
Thu giữ của Đỗ Thị Kiều M: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6s Plus đã qua sử dụng, bị nứt mặt trước, số IMEI 1: 353287079106841, bên trong có sim số 0328347140.
Qua điều tra xác định chiếc điện thoại di động hiệu HUAWEI là của Huỳnh Ngọc T2, chiếc điện thoại di động hiệu Iphone Xs là của Phạm Ngọc L, xe mô tô loại sirius, biển kiểm soát 81F1 - 156.32 là của bà Trần Thị T3. Những cá nhân này không biết việc Nguyễn Văn V vận chuyển trái phép chất ma túy. Do đó, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại các điện thoại và xe mô tô này cho chủ sở hữu là anh Hoàng Ngọc T4, Phạm Ngọc L và Trần Thị T3.
Tại Cáo trạng số 77/CT-VKSGL-P1 ngày 25 tháng 4 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn V về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” và “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 4 Điều 250 và khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Đỗ Thị Kiều M về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
2. Diễn biến tại phiên toà:
* Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố và xin giảm nhẹ hình phạt.
* Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội phạm và hình phạt:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” và tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; bị cáo Đỗ Thị Kiều M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V 20 năm tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.
4
Căn cứ khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Căn cứ Điều 55 Bộ luật Hình sự:
Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Nguyễn Văn V phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 22 năm 06 tháng đến 23 năm tù.
Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Đỗ Thị Kiều M từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
+ Về vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì được niêm phong bên trong có chứa ma túy, 01 vỏ hộp bằng giấy cát tông, 02 vỏ hộp giấy, 02 bì nilon bên trong chứa gạo, 01 ví màu đen đã qua sử dụng.
Tịch thu bán sung Ngân sách Nhà nước: 02 điện thoại di động hiệu đã thu giữ của Nguyễn Văn V và Đỗ Thị Kiều M.
Trả cho bị cáo Nguyễn Văn V số tiền 4.255.000 đồng.
+ Về án phí: Buộc các bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định.
- Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn V có quan điểm: Thống nhất với tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo. Sau khi phạm tội bị cáo V thành khẩn khai báo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức thấp nhất của khung hình phạt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Thành D khẳng định không quen biết Nguyễn Văn V, không biết về hành vi mua bán, vận chuyển ma tuý của V, không có ý kiến tranh luận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]Về chấp hành pháp luật tố tụng hình sự:
Quá trình giải quyết vụ án tại giai đoạn điều tra, truy tố, các cơ quan và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Về hành vi phạm tội :
Các bị cáo Nguyễn Văn V và Đỗ Thị Kiều M khai nhận: Ngày 28/7/2023, tại quán K1 thuộc tổ H, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai, Nguyễn Văn V và Đỗ Thị Kiều M đã thỏa thuận bán cho Nguyễn Minh T1 01 gói ma túy. Sau đó, Nguyễn
5
Văn V đã liên hệ với đối tượng D (chưa rõ nhân thân, lai lịch) để lấy ma túy từ D rồi bán cho T1 01 gói ma túy với giá 1.300.000 đồng để sử dụng.
Bị cáo V còn khai nhận ngày 01/8/2023, tại quán K1 thuộc tổ H, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai, Nguyễn Văn V tiếp tục thỏa thuận và cung cấp thông tin số điện thoại của V cho D với mục đích nhận giúp Dự gói hàng có chứa ma túy. Đến ngày 05/8/2023, khi V đi đến khu vực vòng xuyến ngã năm giao nhau giữa các đường Đ - H - H thuộc tổ B, phường T, thị xã A, tỉnh Gia Lai để nhận gói hàng có chứa ma túy từ nhân viên giao hàng Huỳnh Ngọc T2 thì bị phát hiện và bị bắt quả tang cùng với tang vật.
Theo Kết luận giám định số 726/KL-KTHS ngày 14/8/2023 của Phòng K Công an tỉnh G kết luận thì 300 viên nén màu vàng (trên viên nén có chữ “f”), trong 03 gói hàng nilon (bắt được của bị cáo V vận chuyển) là ma túy, loại MDMA, tổng khối lượng 119,7996 gam.
Lời khai nhận tội của các bị cáo Nguyễn Văn V và Đỗ Thị Kiều M phù hợp với các chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ khẳng định:
Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn V đã phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” và “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 4 Điều 250 và khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; hành vi của bị cáo Đỗ Thị Kiều M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự mà bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai truy tố.
[3] Về tính chất vụ án, mức độ vai trò hành vi phạm tội của các bị cáo:
Đây là vụ án bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội đặc biệt nghiêm trọng. Bị cáo V là người có hành vi thỏa thuận và cung cấp thông tin số điện thoại cho đối tượng tên D (chưa rõ nhân thân, lai lịch) để vận chuyển trái phép 119,7996 gam ma túy. Ngoài ra bị cáo V còn có hành vi liên hệ với đối tượng D để lấy ma túy và cùng với bị cáo Đỗ Thị Kiều M đã thỏa thuận bán cho Nguyễn Minh T1 01 gói ma túy với giá 1.300.000 đồng để sử dụng.
Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm qui định của Nhà nước về về chế độ quản lý, sử dụng các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an, an toàn xã hội.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và hình phạt.
- Về tình tiết tăng nặng: Đối với bị cáo V ngày 07/01/2022 đã bị Tòa án nhân dân thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai có Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2022/HS-ST xử phạt 02 năm tù giam về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Ngày 12/6/2023 đã chấp hành xong hình phạt tù, nhưng chưa xóa án tích nay tiếp tục phạm tội mới, nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; Bị cáo M không bị áp dụng tình tiết tăng nặng.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra các bị cáo Nguyễn Văn V và Đỗ Thị Kiều M đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội nên bị cáo V và bị cáo M đều được được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Riêng bị cáo Đỗ Thị Kiều
6
M sau khi phạm tội đã ra đầu thú nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Tuy nhiên cũng cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất mức độ và hành vi phạm tội để giáo dục cải tạo riêng đối với các bị cáo và phong ngừa chung. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[5] Về vật chứng:
Đối với 01 phong bì được niêm phong bên trong có chứa ma túy, 01 vỏ hộp bằng giấy cát tông, 02 vỏ hộp giấy, 02 bì nilon bên trong chứa gạo, 01 ví màu đen đã qua sử dụng, liên quan đến hành vi phạm tội, giá trị nhỏ nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn V và 01 điện thoại di động thu giữ của bị cáo Đỗ Thị Kiều M, là phương tiện các bị cáo dùng vào việc phạm tội nên nên tịch thu bán sung ngân sách nhà nước.
Đối với số tiền 4.255.000 đồng tiền thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn V không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
[6] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
[7] Về các đối tượng và tình tiết khác:
- Đối với đối tượng nam giới tên D là người nhờ V đi nhận, vận chuyển ma túy, quá trình điều tra V khai Dự thuê trọ tại địa chỉ A Đ, phường T, thị xã A. Tiến hành kiểm tra điện thoại di động của V có lưu danh bạ “A D2” với số điện thoại 0335.247.xxx. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh và xác định tại địa chỉ A Đ không có ai tên D2 sinh sống hay tạm trú tại đây. Số điện thoại 0335.247.xxx là của Nguyễn Thành D. Quá trình điều tra, đối chất giữa Nguyễn Văn V với Nguyễn Thành D và tại phiên toà, Nguyễn Thành D và Nguyễn Văn V đều khai Nguyễn Thành D không phải là đối tượng D đã nhờ V nhận vận chuyển ma túy. Do đó, chưa có đủ căn cứ để xử lý mà tiếp tục điều tra xác minh làm rõ để xử lý sau.
- Đối với đối tượng nam giới là người đưa ma túy đến quán K1 và nhận tiền bán ma túy của V. Quá trình điều tra và tại phiên toà V không biết rõ họ tên địa chỉ nơi ở cụ thể, nên không có cơ sở để xác minh xử lý, sau này nếu có căn cứ sẽ xử lý sau.
- Đối với người đã gửi gói hàng có chứa ma túy cho V. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh thông tin người gửi hàng tại Công ty cổ phần G, kết quả thể hiện thông tin người gửi là PocPoc Shop, số điện thoại 0376.661.xxx, địa chỉ A đường số A khu dân cư C, phường A, quận G, thành phố Hồ Chí Minh, thông tin đăng ký người gửi là Nguyễn Thị Ý D1 (Sinh ngày: 15/8/1996, số chứng minh nhân dân [...], hộ khẩu thường trú tại khu phố B, thị xã T, tỉnh Bình Dương). Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh theo các thông tin nêu trên và xác định tại địa chỉ nêu trên không có cửa hàng nào tên PocPoc S và chị Nguyễn Thị Ý D1 không phải là người gửi gói hàng này. Đối với số điện thoại 0376.661.xxx, Cơ quan điều tra đã có văn bản yêu cầu Tập đoàn V2 cung cấp thông tin nhưng đến nay chưa có kết quả. Do đó, tiếp tục điều tra, xác minh khi
7
nào có đủ căn cứ sẽ xử lý sau.
- Đối với Phạm Ngọc L là người cùng đi với Nguyễn Văn V. L không biết V đi nhận ma túy nên không xử lý đối với L là có căn cứ.
- Đối với Huỳnh Ngọc T2 là nhân viên của Công ty G thực hiện nhiệm vụ giao gói hàng cho V theo quy định. T2 không biết bên trong gói hàng có ma túy nên không xử lý hình sự đối với T2.
- Đối với Nguyễn Minh T1, Nguyễn Gia H2 và Lê Tuyết A: Quá trình điều tra xác định Nguyễn Minh T1 là người đã liên hệ mua ma túy của Đỗ Thị Kiều M và Nguyễn Văn V để sử dụng. Tuy nhiên, ngoài lời khai ra không có tài liệu, vật chứng nào khác để chứng minh kết luận các đối tượng này tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong quán Karaoke. Do đó, không có căn cứ xử lý các đối tượng này về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, mà ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
- Đối với Hồ Duy N là người đã cho T1 mượn điện thoại sau đó T1 đã sử dụng điện thoại này để liên lạc mua ma túy với Đỗ Thị Kiều M. Tuy nhiên, khi cho mượn điện thoại N không biết T1 sử dụng để liên lạc mua ma túy. Do đó, không xem xét xử lý hình sự đối với N.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”; bị cáo Đỗ Thị Kiều M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt:
Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V 20 (Hai mươi) năm tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy.
Căn cứ khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V 02 (Hai) năm 06 (S1) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Căn cứ Điều 55 Bộ luật Hình sự:
Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Nguyễn Văn V phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 22 (Hai mươi hai) năm 06 (S1) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/8/2023.
Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Đỗ Thị Kiều M từ 02 (H5) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 06/8/2023.
8
3. Về vật chứng:
Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì công văn của Phòng K Công an tỉnh G có đặc điểm: Mặt trước có dòng chữ “Số 726/PC09 ngày 14 tháng 8 năm 2023”, tại mép dán mặt sau bì công văn có đóng dấu tròn của Phòng K, nội dung “CÔNG AN TỈNH GIA LAI * PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ” và các chữ ký ghi họ tên Phạm Thanh T5, Hoàng Ngọc B, Bùi Sỹ T6; 01 vỏ hộp bằng giấy cát tông, bên trong có dãy số “1728692194” và chữ “PocPoc shop đào/087***8161, 30 Anh Hùng N1, thị xã A, tỉnh Gia Lai”; 02 vỏ hộp giấy, bên ngoài ghi “Ngũ cốc dinh dưỡng, KLT:750g”; 02 bì nilon bên trong chứa gạo; 01 ví màu đen đã qua sử dụng, bên trong có chữ GUCCI màu vàng.
- Tịch thu bán sung Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu iphone đã qua sử dụng, có số Imei 1: 359451183253691, số Imei 2: 359451183437997, bên trong sử dụng sim số 0879778161, trên sim có dãy số 89840810008755799992; 01 điện thoại di động hiệu Iphone đã qua sử dụng, bị nứt mặt trước, số I: 3532870791068 41, bên trong có sim số: 0328347140;
- Trả cho bị cáo Nguyễn Văn V số tiền 4.255.000đ (Bốn triệu hai trăm năm mươi lăm ngàn đồng).
(Các vật nêu trên có đặc điểm ghi tại biên bản bàn giao vật chứng số 106/2024 lập ngày 06/5/2024 giữa cơ quan điều tra Công an tỉnh G với Cục Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai).
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án:
Buộc các bị cáo Nguyễn Văn V, Đỗ Thị Kiều M mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo:
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo Bản án để yêu cầu Toà án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm. Người có quyền kháng cáo vắng mặt tại phiên toà thì thời hạn kháng cáo kể từ ngày nhận được hoặc ngày niêm yết bản án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Sinh |
9
10
Bản án số 58/2024/HS-ST ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về vận chuyển trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 58/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vận chuyển trái phép chất ma túy và Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn V phạm tội mua bán trái phép chất ma tuý
