Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2024/HS-ST

Ngày 30-5-2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Mai Thị Duyên

Ông Nguyễn Văn Hiếu

Thư ký phiên toà: Bà Lưu Hải Hà - Thư ký Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Diễm Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở, Toà án nhân dân quận HảiKiÕn An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 35/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Lê Mạnh H, sinh ngày 02/6/1997, nơi sinh: Hải Phòng; ĐKHKTT: Khu A, phường N, quận H, thành phố H ở hiện nay: Số B H, tổ H, phường N, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Đ bà Đoàn Thị P; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Hoa M, có 01 con sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ từ ngày 26/01/2024 đến ngày 28/01/2024 chuyển tạm giam; có mặt.

Bị hại: Anh Nguyễn Văn H1sinh năm 1996; nơi cư trú: Số A, tổ A, quận H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Anh Phạm Quốc K, sinh năm 1987, địa chỉ: số D, phường H, quận L, thành phố Hải Phòng vắng mặt.

Anh Phạm Văn T, sinh năm 1993, địa chỉ: số D, phường H, quận L, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 20/01/2022, tại phòng trọ tầng 2 của Công ty P1 chỉ: Số A NT2Đ, H, Hải Phòng, do không có tiền tiêu xài cá nhân nên Lê Mạnh H1 nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô của bạn ở cùng phòng là anh Nguyễn Văn H2 năm 1996, địa chỉ: Số A, tổ A, phường N, H, H3 PhòngHlấy 02 chùm chìa khóa xe mô tô mà anh H2để ở trong phòng trọ rồi đi xuống khu vực cuối dãy nhà trọ ở tầng 1 là nơi anh H2để 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter màu đỏ đen BKS: 15B2 – 684.75 và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu đỏ trắng đen BKS: 15B3 – 653.90 không có người trông coi. Khi thấy các xe mô tô trên, Hlấy chìa khóa của xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade BKS: 15B3 – 653.90 bấm nút khởi động rồi mở cốp xe ra kiểm tra, phát hiện bên trong cốp xe có giấy tờ đăng ký xe mang tên chủ xe là anh Nguyễn Trọng L năm 1998, địa chỉ: Thôn N, xã K, huyện T, Hải Phòng. Hđiều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade BKS: 15B3 – 653.90 đi qua khu vực cổng chính của Công ty P1hướng đến cửa hàng C1địa chỉ: số C N, Kênh D, L, Hải Phònggặp anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1996, địa chỉ: Thôn E, H, M, Quảng Ninh là nhân viên tại đây và đề nghị cầm cố xe. Anh T1xem xe và giấy tờ xe thì thấy trùng khớp với biển số xe. Anh Tlyêu cầu H chứng minh thư cho xem thì thấy chứng minh thư mang tên Lê Mạnh H4 năm 1997, địa chỉ: Khu A, phường N, H, H trùng khớp với tên trên giấy tờ đăng ký xe nên đã hỏi Hxe này của ai thì H5 là xe của anh họ H6 Anh T1đồng ý cầm cố xe với giá 12.000.000 đồng rồi viết Hợp đồng cầm đồ và đưa tiền mặt cho HHđể lại 01 CCCD mang tên Lê Mạnh H7 đi về. Hđã tiêu hết số tiền này.

Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, H8 lại khu vực nhà trọ của Công ty P2 đã dùng chìa khóa xe lấy từ trước mở cốp xe ra kiểm tra, phát hiện bên trong cốp xe có giấy tờ đăng ký xe mang tên chủ xe là anh Nguyễn Văn H9 đã điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter BKS: 15B2 – 68475 quay lại quán C gặp và đề nghị anh T1cầm cố xe. Anh T1xem xe và giấy tờ xe thì thấy trùng khớp biển số nhưng giấy đăng ký xe mang tên người khác nên có hỏi Hthì Hnói đây là xe của người nhà nhờ Hđi cầm cố hộ. Anh T1đồng ý cầm xe với giá 5.000.000 đồng rồi viết Hợp đồng cầm đồ và đưa tiền mặt cho H Hđã tiêu hết số tiền này.

Khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, để có thêm tiền tiêu xài cá nhân, H10 mạng xã hội Facebook tìm kiếm những người có nhu cầu muốn mua xe mô tô. Hsử dụng tài khoản Facebook tên “Mạnh Huy” nhắn tin với anh Phạm Quốc K, sinh năm 1987, địa chỉ: số D, Hồ NLê CHải Phòng về việc H11 muốn bán 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade đời mới. Anh K1 xe ở đâu thì Hnói xe đang ở cửa hàng C1địa chỉ: số C N, Kênh D, L, Hải Phòng. Khoảng 20 giờ cùng ngày, anh K2 em trai là anh Phạm Văn T, sinh năm 1993, địa chỉ: số D, Hồ NLê CHải Phòng đi đến địa chỉ trên để xem xe và thỏa thuận mua với giá 18.000.000 đồng. Anh T đưa tiền mặt cho Hđể H12 chuộc xe. Hđi vào trong cửa hàng cầm đồ đưa cho anh T112.000.000 đồng để chuộc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade BKS: 15B3 – 653.90 rồi viết 01 Giấy bán xe ghi ngày 20/01/2022 đưa cho anh Phạm Văn T2 anh T3 khiển xe đi về nhà.

Khoảng 08 giờ 40 phút ngày 21/01/2022, H13 tục sử dụng tài khoản Facebook tên “Mạnh Huy” nhắn tin với anh Phạm Quốc K để đề nghị bán tiếp 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter BKS: 15B2 – 68475 cho anh KHhẹn anh K3 xem xe tại cửa hàng C1nên khoảng 10 giờ cùng ngày, anh K4 em trai là anh Phạm Văn T4 đến địa chỉ trên xem xe và thỏa thuận mua xe với giá 6.500.000 đồng. Anh K5 tiền mặt cho Hđể H12 chuộc xe. Hđi vào trong cửa hàng cầm đồ đưa cho anh T15.000.000 đồng để chuộc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter BKS: 15B2 – 68475. Anh T1đồng ý và trả lại cho H01 CCCD mang tên Lê Mạnh H14 Sau đó, H15 01 Hợp đồng mua bán xe máy ghi ngày 21/01/2022 đưa cho anh Phạm Quốc K6 anh K7 khiển xe đi về nhà.

Khoảng 19 giờ ngày 20/01/2022, anh H2đi làm về phát hiện bị mất 02 xe mô tô trên nên ngày 21/01/2022 đã đến trụ sở Công an phường Đtrình báo.

Ngày 25/01/2022, anh Phạm Văn T5 nộp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu đỏ trắng đen, BKS: 15B3-653.90; anh Phạm Quốc K8 nộp 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter màu đỏ đen, BKS: 15B2-68475.

Ngày 26/10/2022, Lê Mạnh H16 Cơ quan CSĐT - Công an quận H ra Quyết định truy nã. Ngày 25/01/2024, Lê Mạnh H16 bắt.

Tại Kết luận định giá tài sản số 08/KL-HĐĐGTS ngày 15/02/2022, Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự UBND quận Hkết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter màu đỏ đen, BKS: 15B2-68475 trị giá 10.830.000 đồng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu đỏ trắng đen, BKS: 15B3-653.90 trị giá 38.153.333 đồng. Tổng giá trị của các tài sản cần định giá tại thời điểm tháng 02/2022 là: 48.983.333 đồng.

Tại Kết luận giám định số 112 ngày 18/02/2022 Phòng K1Công an thành phố Hkết luận: xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu đỏ trắng đen, BKS: 15B3-653.90 và 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter màu đỏ đen, BKS: 15B2-68475 có số khung và số máy là số nguyên thủy của nhà sản xuất đóng, không phát hiện thấy có sự tẩy xóa, sửa chữa.

Tại Kết luận giám định số 169/KL-KTHS(KTS) ngày 10/5/2022 của Phòng K11 kết luận: 05 tập tin video có phần mở rộng “MP4” tổng dung lượng 30,3 MB được lưu trong 01 USB nhãn hiệu Kingston 16 GB đã qua sử dụng không bị cắt ghép, chỉnh sửa. Trích xuất 08 hình ảnh nghi liên quan đến vụ việc được lập thành bản ảnh kèm theo.

Tại Kết luận giám định số 126/KL-KTHS(TL) ngày 15/8/2022 của Phòng K1Công an thành phố Hkết luận: Chữ ký, chữ viết mang tên Lê Mạnh H17 mục “Người vay” trên 02 Hợp đồng cầm đồ ghi ngày 20/01/2022 của Cửa hàng cầm đồ N L1so với chữ ký, chữ viết của người mang tên Lê Mạnh H18 01 Tờ khai đăng ký kết hôn ghi ngày 17/4/2019 và 01 Tờ khai đăng ký khai sinh ghi ngày 03/01/2020 là do cùng một người ký, viết ra

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Lê Mạnh H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung trên.

Tại bản Cáo trạng số 45/CT-VKS ngày 17/4/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng đã truy tố Lê Mạnh H về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà hôm nay, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu là đúng.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên Lê Mạnh H phạm tội Trộm cắp tài sản. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Từ phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 173, Điều 38, điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt Lê Mạnh H từ 02 năm 06 tháng đến 3 năm tù. Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, buộc bị cáo phải nộp ngân sách nhà nước 24.500.000 đồng tiền do phạm tội mà có. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự:

  • - Anh Nguyễn Văn H19 nhận lại được tài sản nên không yêu cầu bồi thường.
  • - Anh Phạm Văn T6 yêu cầu Lê Mạnh H phải trả lại số tiền đã mua xe là 18.000.000 đồng; anh Phạm Quốc K9 yêu cầu Lê Mạnh H phải trả lại số tiền đã mua xe là 6.500.000 đồng.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không tranh luận với quan điểm của Kiểm sát viên, phần nói lời sau cùng bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Bị cáo xin lỗi bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và gia đình, bị cáo rất ăn năn, hối hận và xin giảm nhẹ hình phạt để sớm được trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

  1. [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội danh:

  1. [2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu; phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền loiwk, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Khoảng 07 giờ 30 phút và khoảng 16 giờ ngày 20/01/2022, tại khu vực cuối dãy nhà trọ tầng 1 của Công ty Pllợi dụng lúc chủ sở hữu đi vắng và không có ai trông coi, Lê Mạnh H1 lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu đỏ trắng đen, BKS: 15B3-653.90 và 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter màu đỏ đen, BKS: 15B2-68475 của anh Nguyễn Văn H20 tổng trị giá 48.983.333 đồng đem đi bán lấy tiền tiêu xài cá nhân hết.
  2. [3] Về lỗi của bị cáo: Bị cáo cầm cả 2 chùm chìa khóa của 2 xe mục đích chiếm đoạt cả 2 xe của bị hại, tuy nhiên bị cáo thực hiện hành vi phạm tội 1 mình nên chỉ lấy từng xe một, khi chiếm đoạt xe thứ nhất xong thì bị cáo về tiếp tục chiếm đoạt xe thứ 2. Khi thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của bị hại, bị cáo nhận thức được việc làm đó là vi phạm pháp luật, thấy trước hậu quả đồng thời mong muốn chiếm đoạt được tài sản của bị hại để tiêu xài, do đó lỗi của bị cáo là lỗi cố ý trực tiếp.
  3. [4] Từ những nhận xét nêu trên có đủ cơ sở kết luận: Giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 48.983.333 đồng, do đó hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo về tội trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, không oan sai đối với bị cáo.

- Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  1. [5] Bị cáo Lê Mạnh H21 có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra vụ án, bị cáo đã thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

- Về hình phạt:

  1. [6] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo nhận thức được hành vi đó là vi phạm pháp luật nhưng vì tham lam, tư lợi nên đã cố ý phạm tội. Hành vi của bị cáo thể hiện sự xem thường pháp luật, xem thường quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, việc truy tố và đưa bị cáo ra xét xử là cần thiết, cần có mức hình phạt tương xứng để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
  2. [7] Đối với số tiền bị cáo bán tài sản đã chiếm đoạt của anh Nguyễn Văn H22 anh Phạm Quốc K10 anh Phạm Văn T7 số tiền là 24.500.000 đồng. Số tiền này bị cáo dùng tiêu xài cá nhân. Anh Phạm Văn T6 yêu cầu Lê Mạnh H phải trả lại số tiền đã mua xe là 18.000.000 đồng; anh Phạm Quốc K9 yêu cầu Lê Mạnh H phải trả lại số tiền đã mua xe là 6.500.000 đồng nên Hội đồng xét xử không xem xét. Tuy nhiên, đây là số tiền do phạm tội mà có nên buộc bị cáo phải nộp lại 24.500.000 đồng để sung ngân sách nhà nước.
  3. [8] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên không xem xét áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng:

  1. [9] Đối với xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Honda mang BKS: 15B3-653.90 và xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Yamaha mang BKS: 15B2-684.75 cùng giấy tờ đăng ký xe, ngày 11/10/2022, Cơ quan CSĐT – Công an quận H ra Quyết định xử lý vật chứng số 30/QĐ-ĐCSHS trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Nguyễn Văn H23 theo quy định của pháp luật.

- Về trách nhiệm dân sự.

  1. [10] Bị hại là anh H2không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

- Về các vấn đề khác:

  1. [11] Đối với Nguyễn Văn T1Phạm Q KPhạm Văn Tlà người cầm cố và mua xe mô tô, tài liệu điều tra xác định: Anh T1Kvà T8 biết đây là tài sản do trộm cắp mà có nên không có căn cứ xử lý.
  2. [12] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
  3. [13] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, Điều 38, điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự,
  • Tuyên bố bị cáo Lê Mạnh H phạm tội Trộm cắp tài sản.
  • Xử phạt bị cáo Lê Mạnh H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/01/2024.
  • - Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự: Buộc bị cáo phải nộp 24.500.000 đồng để sung ngân sách Nhà nước.
  • - Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Lê Mạnh H phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  • - Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự,
  • Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
  • Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TANDTP Hải Phòng;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND quận Hải An;
  • - CQĐT - Công an quận Hải An;
  • - Phòng PV 06 - Công an TP Hải Phòng;
  • - Chi cục THADS quận Hải An;
  • - Sở Tư pháp TP. Hải Phòng;
  • - Trại tạm giam;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: Hồ sơ, HСТР.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hằng

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Văn Minh

Phạm Thị Yến

Nguyễn Thị Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 58/2024/HS-ST ngày 30/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về trộm cắp tài sản (theft of property)

  • Số bản án: 58/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Theft of property)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger