|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ PHONG TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 58/2024/HS-ST
Ngày 29 - 8 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ PHONG, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hồ Diên Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lang Văn Hải và ông Mong Thái Dương.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lang Thanh Như, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong tham gia phiên toà: Bà Lô Thị Giang, Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 8 năm 2024, điểm cầu tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An và điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an tỉnh N xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 54/2024/TLST-HS, ngày 09 tháng 8 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo: Lô Văn D; tên gọi khác: Không; sinh năm 1961, tại huyện Q, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Bản L, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ (học vấn): Lớp 7/10; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lô Văn D1 (đã chết) và bà: Lô Thị D2 (đã chết); Vợ: Lô Thị H, tên gọi khác: Vi Thị H1, con: Có 05 người, lớn 1982, nhỏ sinh năm 1997; Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Năm 2003, bị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xử phạt 8 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Năm: 2010, bị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xử phạt 8 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, 7 năm tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”, tổng hợp hình phạt là 15 năm tù; Ngày 18/12/2020 chấp hành xong án phạt tù trở về địa phương. bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/6/2024 đến nay, có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Quỳnh T - Chức danh: Trợ giúp viên trợ giúp pháp lý chi nhánh S - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà Nước tỉnh N, có mặt.
- Người làm chứng: Anh Lô Văn N, sinh năm 1987
Trú tại: Bản Đ, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An, vắng mặt.
- Người chứng kiến: Anh Kim Văn M, sinh năm 1987;
Trú tại: Bản H, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 31/5/2024, Lô Văn D đi lên khu vực rừng bản L, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An để lấy củi thì gặp một người đàn ông dân tộc Mông. Doãn xin được 01 gói Heroine bọc trong mảnh ni lông màu vàng. Xin được ma túy Lô Văn D lấy ra để sử dụng một ít, phần còn lại tiếp tục gói vào mảnh ni lông màu vàng rồi bỏ vào túi quần đưa về nhà. Khi về nhà D cất dấu gói ma túy trong túi quần treo trong phòng ngủ. Đến khoảng 08 giờ ngày 04/6/2024, Lô Văn D đang ở nhà thì có Lô Văn N đến và hỏi mua Heroine. N đưa cho Lô Văn D số tiền 150.000 (Một trăm năm mươi nghìn) đồng gồm 01 tờ tiền mệnh giá 50.000 (Năm mươi nghìn) đồng và 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 (Một trăm nghìn) đồng. D cầm tiền cất vào túi quần bên phải của mình rồi đi vào nhà lấy gói Heroine đang cất dấu đưa cho N. Khi Lô Văn N vừa nhận gói ma túy thì bị Công an xã C kiểm tra, phát hiện, thu giữ trên tay của N gói Heroine và thu giữ trong túi quần bên phải của D số tiền 150.000 (Một trăm năm mươi nghìn) đồng do bán ma túy cho Lô Văn N mà có.
Kết luận giám định số: 622/KL-KTHS (Đ2-MT) ngày 10/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: “Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Lô Văn D và Lô Văn N gửi giám định là ma túy; loại Heroine (H), có tên khoa học là D3, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
- Số chất bột màu trắng thu giữ của Lô Văn D và Lô Văn N có khối lượng là 0,08g (Không phẩy không tám) gam”.
Về vật chứng của vụ án thu giữ gồm:
- Thu giữ của Lô Văn D và Lô Văn N 01 (một) gói Heroine có khối lượng 0,08 gam (Không phẩy không tám) gam Cơ quan điều tra đã lấy toàn bộ số ma túy bị thu giữ gửi giám định và đã sử dụng hết trong quá trình giám định.
- Thu giữ của Lô Văn D số tiền 150.000 (Một trăm năm mươi nghìn) đồng, gồm: 01 (Một) tờ P mệnh giá 100.000 (Một trăm nghìn) đồng, 01 (Một) tờ Polyme mệnh giá 50.000 (Năm mươi nghìn) đồng.
Bản cáo trạng số 57/CT-VKS-QP ngày 07/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An truy tố Lô Văn D về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát huyện Q vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố bị cáo Lô Văn D như nội dung bản cáo trạng đã kết luận và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lô Văn D từ 02 đến 02 năm 06 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; tịch thu tiêu huỷ mảnh bao ni lông màu vàng và vỏ phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu thu giữ của Lô Văn D.
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 150.000 (Một trăm năm mươi nghìn) đồng do bị cáo Lô Văn D phạm tội mà có.
Trong vụ án này, đối với người đàn ông dân tộc Mông có hành vi cho Lô Văn D ma túy (theo lời khai của D) do không xác định được lai lịch cụ thể, nên không có căn cứ để điều tra xử lý. Đối với Lô Văn N mua ma túy với D mục đích để sử dụng nhưng xét thấy khối lượng ma túy chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên Công an huyện Q đã ra Quyết định xử phạt hành chính với số tiền 3.500.000 đồng (Ba triệu năm trăm nghìn) đồng.
Phần tranh luận: Người bào chữa không tranh luận về tội danh và đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ, xử phạt bị cáo 02 năm tù. Và không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Bị cáo nhất trí với quan điểm trình bày của người bào chữa và cũng không tranh luận gì thêm mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của vị đại diện Viện Kiểm sát, bị cáo, người bào chữa và người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa, người làm chứng, người chứng kiến không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung vụ án: Mặc dù không được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép, nhưng Vào hồi 8 giờ ngày 04 tháng 6 năm 2024, tại bản Liên Phương xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An, Lô Văn D đã có hành vi bán trái phép cho Lô Văn N 01 gói Heroine với số tiền 150.000 (Một trăm năm mươi nghìn) đồng với mục đích bán kiếm lời thì bị phát hiện bắt giữ. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến sự độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước. Do đó, bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
[3] Về tính chất mức độ hành vi, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hành vi phạm tội của bị cáo không những xâm phạm trực tiếp đến sự độc
quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, mà còn làm ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe, nòi giống của con người, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng. Vì vậy, cần xét xử nghiêm và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người tốt có ích cho xã hội, răn đe và phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên, sau khi phạm tội bị cáo khai báo thành khẩn đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4] Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong đề nghị xử phạt bị cáo là phù hợp. Đề nghị của người bào chữa xử phạt bị cáo là chưa hợp lý.
[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có việc làm ổn định, thu nhập thấp, điều kiện kinh tế khó khăn, không có tài sản đáng giá. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về vật chứng: Mảnh bao ni lông màu vàng và vỏ phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu của Lô Văn D nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 150.000 (Một trăm năm mươi nghìn) đồng do bị cáo Lô Văn D bán ma tuý mà có.
[7] Đối với người đàn ông dân tộc Mông có hành vi cho Lô Văn D ma túy (theo lời khai của D) do không xác định được lai lịch cụ thể, nên không có căn cứ để điều tra xử lý. Đối với Lô Văn N mua ma túy với D với mục đích để sử dụng nhưng xét thấy khối lượng ma túy chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên Công an huyện Q đã ra Quyết định xử phạt hành chính với số tiền 3.500.000 (Ba triệu năm trăm nghìn) đồng.
[8] Bị cáo Lô Văn D phải chịu án phí Hình sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Lô Văn D: 30 (Ba mươi) tháng tù, Về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ ngày 04 tháng 6 năm 2024.
Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy Mảnh bao ni lông màu vàng và vỏ phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu của Lô Văn D.
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 150.000 (Một trăm năm mươi nghìn) đồng do bị cáo Lô Văn D bán ma tuý mà có.
(Đặc điểm theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản giữa Công an huyện Q và Chi cục thi hành án dân sự huyện Quế Phong ngày 22/8/2024) và
biên biển giao nhận tài sản ngày 14/6/2024 giữa Công an huyện Q với kho bạc Nhà nước Q (theo bút lục số 46).
Về án phí: Căn cứ vào Điều 135 và 136 Bộ luật tố tụng Hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lô Văn D phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo đối với bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Diên Tuấn |
Bản án số 58/2024/HS-ST ngày 29/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ PHONG, TỈNH NGHỆ AN về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 58/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ PHONG, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lô Văn D phạm tội mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251 BLHS
