Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LẠNG GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2024/HNGĐ-ST

Ngày 29-8-2024

V/v “tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Quỳnh Hoa

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thanh

Ông Trần Thành Đô

- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Quý Đôn- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Vi Đức Thứ- Kiểm sát viên

Ngày 29 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang tiến hành mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 174/2024/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 5 năm 2024 về “Tranh chấp hôn ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 136/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 28/2024/QĐST-HNGĐ ngày 20/8/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị T, sinh năm 1978 (có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1975 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Tại đơn xin ly hôn cùng các lời khai tiếp theo nguyên đơn chị Bùi Thị T trình bày như sau:

-Về quan hệ hôn nhân: Chị kết hôn với anh Nguyễn Văn H ngày 30/4/1996 trước khi cưới hai bên có được tự do tìm hiểu thỏa thuận và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L. Cưới xong vợ chồng về chung sống với nhau ngay, thời gian đầu tình cảm vợ chồng hòa thuận hạnh phúc. Vợ chồng chung sống đến năm 2010 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống và làm ăn phát triển kinh tế. Do vợ chồng mâu thuẫn nên cuối năm 2021 chị đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở, vợ chồng đã sống ly thân từ đó đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị và anh Nguyễn Văn H được ly hôn.

- Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Nguyễn Tiến H1, sinh năm 1997 và Nguyễn Thị H2, sinh năm 2000. Hiện các con chung khỏe mạnh phát triển bình thường và đã trưởng thành, chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Bùi Thị T không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa chị Bùi Thị T có đơn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày ở trên và xin xét xử vắng mặt.

*Tại bản tự khai, các lời khai tiếp theo bị đơn anh Nguyễn Văn H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn H xác nhận một phần lời khai của chị Bùi Thị T đã trình bày về quá trình kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng và quá trình vợ chồng sống ly thân là đúng. Xét thấy tình cảm vợ chồng vẫn còn, mục đích hôn nhân còn đạt được, chị Bùi Thị T làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị và anh Nguyễn Văn H được ly hôn, anh không đồng ý mà mong muốn vợ chồng về đoàn tụ.

- Về con chung: Vợ chồng có hai con chung như chị T trình bày là đúng, các con chung đã trưởng thành anh không đề nghị Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Anh Nguyễn Văn H không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa anh Nguyễn Văn H vắng mặt.

*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi mở phiên tòa Thẩm phán và Thư ký Tòa án tuân theo đúng trình tự tố tụng. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử sơ thẩm thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án chấp hành đúng theo quy định của BLTTDS. Bị đơn anh Nguyễn Văn H chưa chấp hành nghiêm quy định của bộ luật tố tụng dân sự, tại phiên tòa vắng mặt lần hai không có lý do.

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 228, Điều 238; Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Bùi Thị T được ly hôn anh Nguyễn Văn H.

Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề xuất giải quyết án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền: Ngày 31/5/2024, Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang thụ lý vụ án theo đơn khởi kiện tranh chấp ly hôn giữa chị Bùi Thị T với bị đơn anh Nguyễn Văn H có địa chỉ tại thôn D, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang là đúng quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án các thủ tục tiến hành tố tụng đảm bảo tuân theo đúng quy định của BLTTDS, không có đương sự nào khiếu nại về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Thẩm phán, Thư ký. Do đó các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành đều hợp pháp.

Tại phiên tòa chị Bùi Thị T có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Nguyễn Văn H được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vụ án vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị T và anh Nguyễn Văn H đăng ký kết hôn ngày 30/4/1996 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang trên cơ sở tự nguyện, hợp pháp. Quá trình chung sống chị T xác định trong quan hệ hôn nhân vợ chồng có mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung. Chị T đã đi khỏi nhà sống từ cuối năm 2021, anh chị đã sống ly thân từ đó. Nay chị T và xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị T đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn H. Phía anh H không đồng ý ly hôn mà mong muốn vợ chồng về đoàn tụ. Hội đồng xét xử xét thấy, chị T và anh H trong thời gian chung sống vợ chồng không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ với nhau, không thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ mọi việc, không giữ gìn, bảo vệ hạnh phúc gia đình, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn và hiện tại đã sống ly thân, không quan tâm qua lại, chăm sóc gì cho nhau. Theo biên bản xác minh tình trạng hôn nhân tại địa phương nơi anh Hà cư t thấy anh chị sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống tại thôn D, xã T. Anh chị chung sống hoà thuận, hạnh phúc được khoảng vài năm thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Hiện chị T và anh H đang sống ly thân, từ năm 2021, anh chị không có khả năng đoàn tụ. Xét thấy mâu thuẫn giữa chị T và anh H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Bùi Thị T được ly hôn anh Nguyễn Văn H.

[3] Về con chung: Chị Bùi Thị T và anh Nguyễn Văn H có hai con chung là Nguyễn Tiến H1, sinh năm 1997 và Nguyễn Thị H2, sinh năm 2000. Hiện các con chung của anh chị khỏe mạnh phát triển bình thường và đã trưởng thành. Do vậy HĐXX xem xét giải quyết.

[4] Về tài sản, nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Bùi Thị T và A Nguyễn Văn H không đề nghị, nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.

[5] Về án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 24, Điều 26, khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc chị Bùi Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) chị đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0007599 ngày 31/5/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.

[6] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

[7] Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của HĐXX nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 24, Điều 26, khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Bùi Thị T được ly hôn anh Nguyễn Văn H.
  2. Về án phí: Buộc chị Bùi Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) chị đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0007599 ngày 31/5/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
  3. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt hoặc niêm yết bản án./.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Lạng Giang;
  • - Chi cục THADS huyện Lạng Giang;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Tân Dĩnh;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Quỳnh Hoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 58/2024/HNGĐ-ST ngày 29/08/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 58/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bà Th ông H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger