Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LẠNG GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 58/2024/DS-ST

Ngày: 28-8-2024

V/v: “Tranh chấp kiện đòi tài sản là tiền cho vay"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thiêm

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Thành Đô

2. Ông Đồng Văn Diện

Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thanh Huyền –Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Lê Đình Tuấn – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 82/2024/DS-ST ngày 02 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp kiện đòi tài sản” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 125/2024/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 7 năm 2024, quyết định hoãn phiên tòa số 101/2024/QÐST-DS ngày 08/8/2024, giữa:

* Nguyên đơn:Nông Thị D, sinh năm 1958 – Có đơn xin xét xử vắng mặt.

Địa chỉ: Số nhà I, tổ A, phường S, TP ., tỉnh Cao Bằng.

* Bị đơn: Anh Hà Văn S, sinh năm 1993 – Vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn C, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các lời khai tiếp theo nguyên đơn bà Nông Thị D trình bày: Thời điểm năm 2017, anh Hà Văn S, sinh năm 1993. Địa chỉ: Thôn C, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang có thuê ở trọ tại gia đình nhà bà. Trong quá trình ở trọ, anh S có hỏi vay của bà tổng số tiền gốc là 85.000.000₫ (T mươi lăm triệu đồng), mục đích vay anh S cần tiền để mua gốc cây làm đồ trang trí, khi vay thoả thuận không tính lãi, các lần vay cụ thể như sau:

  • - Ngày 10/7/2017: Vay số tiền 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng), thời hạn vay từ 10/7/2017 đến 10/10/2017;
  • - Ngày 15/7/2017: Vay số tiền 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng), thời hạn vay từ 15/7/2017 đến 15/10/2017;
  • - Ngày 18/7/2017: Vay số tiền 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng), thời hạn vay từ 18/7/2017 đến 18/10/2017;
  • - Ngày 25/7/2017: Vay số tiền 15.000.000₫ (Mười lăm triệu đồng), thời hạn vay từ 25/7/2017 đến 25/10/2017;
  • - Ngày 28/7/2017: Vay số tiền 10.000.000₫ (Mườii triệu đồng), thời hạn vay từ 28/7/2017 đến 28/10/2017.

Hết thời hạn vay, anh S không trả tiền cho bà và cũng không ở trọ nhà bà nữa mà chuyển đi chỗ khác. Bà nhiều lần tìm kiếm, xuống tận nhà anh S ở thôn C, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang để đòi tiền anh S nhưng có lần gặp anh S có lần không gặp được anh S. Lần gặp được anh S thì anh hẹn đợi anh đi làm ăn có tiền sẽ trả nhưng cho đến nay anh S không trả tiền cho bà và cắt số điện thoại liên lạc. Nay, bà D khởi kiện đến Toà án nhân dân huyện Lạng Giang, đề nghị Toà án buộc anh Hà Văn S trả cho bà số tiền vay còn nợ tổng 85.000.000₫ (T mươi lăm triệu đồng). Số tiền bà cho anh Hà Văn S vay là tiền riêng của cá nhân bà, không liên quan đến chồng bà, nên bà đề nghị Toà án không triệu tập chồng bà tham gia tố tụng trong vụ án này.

* Bị đơn anh Hà Văn S được Toà án giao thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và các văn bản tố tụng của Toà án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng bị đơn anh Hà Văn S không đến Toà án làm việc, không có văn bản ý kiến trình bày quan điểm.

* Tại phiên tòa, nguyên đơn có đơn đề nghị xin xét xử vắng mặt, bị đơn được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử công bố các lời khai, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang đã phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của thẩm phán, Hội đồng xét xử, của thư ký đúng quy định của pháp luật.

- Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án đều đảm bảo thực hiện nghiêm túc, thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ. Đối với bị đơn đã vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, HĐXX căn cứ Điều 227, 238 của Bộ luật tố tụng xét xử vụ án là đúng quy định của pháp luật.

- Về nội dung vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nông Thị D: Buộc anh Hà Văn S phải trả cho bà D số tiền gốc là 85.000.000 (T mươi lăm triệu đồng).

Về án phí: anh Hà Văn S chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra kiểm sát viên đề nghị HĐXX xem xét về quyền kháng cáo của đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa sau khi tiến hành nghị án, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:

  1. [1]. Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Tại phiên tòa nguyên đơn vắng mặt và đều có đơn xin vắng mặt; bị đơn anh Hà Văn S được tiếp tục vắng mặt lần thứ 2, do vậy HĐXX căn cứ Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
  2. [2]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Quan hệ vay tài sản (tiền) giữa bà D và anh S là quan hệ dân sự giữa cá nhân với cá nhân. Các bên đã không tự giải quyết được tranh chấp phát sinh nên nguyên đơn đã làm đơn khởi kiện theo thủ tục tại Tòa án. Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang thụ lý và giải quyết vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật về thẩm quyền được quy định tại các Điều 26, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
  3. [3]. Về quyền khởi kiện, thời hiệu khởi kiện và quan hệ pháp luật tranh chấp thì thấy:

    Tháng 07/2017, bà D và anh S đã thực hiện việc vay tài sản (tiền) 5 lần, tổng số tiền bà D cho anh S vay là 85.000.000đ (T mươi lăm triệu đồng). Mục đích vay anh S cần tiền để mua gốc cây làm đồ trang trí, khi vay thoả thuận không tính lãi, thời hạn vay 03 tháng. Hết thời hạn vay, anh S không thanh toán khoản tiền nào, bà D đã nhiều lần đòi tiền anh S nhưng đến nay anh S vẫn không thanh toán cho bà D. Ngày 25/4/2024, bà D nộp đơn khởi kiện, yêu cầu anh S phải thanh toán trả số tiền vay gốc. HĐXX thấy đây là "Tranh chấp kiện đòi tài sản là tiền cho vay" theo quy định tại Điều 184, Điều 186 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 155, Điều 166 Bộ luật dân sự năm 2015.

  4. [4]. Về nội dung tranh chấp:

    Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nông Thị D, Hội đồng xét xử xét thấy:

    - Về yêu cầu đòi tiền gốc: Bà Nông Thị D và anh Hà Văn S xác lập 05 Hợp đồng cho vay tiền với tổng số tiền vay gốc là 85.000.000đ (T mươi lăm triệu đồng). Cụ thể;

    • - Ngày 10/7/2017: Vay số tiền 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng), thời hạn vay từ 10/7/2017 đến 10/10/2017;
    • - Ngày 15/7/2017: Vay số tiền 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng), thời hạn vay từ 15/7/2017 đến 15/10/2017;
    • - Ngày 18/7/2017: Vay số tiền 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng), thời hạn vay từ 18/7/2017 đến 18/10/2017;
    • - Ngày 25/7/2017: Vay số tiền 15.000.000₫ (Mười lăm triệu đồng), thời hạn vay từ 25/7/2017 đến 25/10/2017;
    • - Ngày 28/7/2017: Vay số tiền 10.000.000₫ (Mườii triệu đồng), thời hạn vay từ 28/7/2017 đến 28/10/2017.

    Giao dịch dân sự giữa hai bên hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 116 của Bộ luật dân sự năm 2015. Khi tham gia giao dịch dân sự bà D, anh S đều có đủ năng lực hành vi dân sự, mục đích và nội dung giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái với đạo đức xã hội, người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định tại Điều 117 của Bộ luật dân sự năm 2015. Kể từ khi vay tiền, anh Hà Văn S chưa trả cho bà Nông Thị D khoản tiền nào. Nay, bà D yêu cầu anh S có trách nhiệm trả cho bà số tiền vay gốc còn nợ là 85.000.000đ, số tiền này bà D cho anh S vay tiền là tiền riêng của bà không liên quan đến chồng bà, nên bà đề nghị Toà án không triệu tập chồng bà tham gia tố tụng trong vụ án. Hội đồng xét thấy, từ năm 2017 đến nay anh S không thực hiện nghĩa vụ trả nợ nên bà Nông Thị D khởi kiện yêu cầu trả số tiền 85.000.000đ là có cơ sở, cần được chấp nhận.

    Tổng số tiền nợ gốc mà anh Hà Văn S phải trả cho bà Nông Thị D là: 85.000.000đ (T mươi lăm triệu đồng).

  5. [5]. Về án phí:

    Anh Hà Văn S phải chịu tiền án phí theo quy định tại khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng tiền án phí, lệ phí Tòa án. Cụ thể: Anh Hà Văn S phải chịu 4.250.000₫ (5% của phần giá trị tài sản có tranh chấp = 5 x 85.000.000₫ : 100 = 4.250.000₫).

    Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên bà D không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

  6. [6]. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 271, Điều 272 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 184, Điều 186, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 272, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 166, Điều 357, Điều 429, Điều 466, Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về miễn, giảm, mức thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,

X: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nông Thị D.

1. Buộc anh Hà Văn S phải thanh toán trả cho bà Nông Thị D số tiền nợ gốc là 85.000.000đ (T mươi lăm triệu đồng).

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

2. Về án phí: Buộc anh Hà Văn S phải chịu số tiền 4.250.000đ (Bốn triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Bà Nông Thị D không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2-Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Lạng Giang;
  • - THADS huyện Lạng Giang;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Vũ Thị Thiêm

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 58/2024/DS-ST ngày 28/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp kiện đòi tài sản là tiền cho vay

  • Số bản án: 58/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp kiện đòi tài sản là tiền cho vay
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Deo anh Sáng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger