Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CẦU KÈ

TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2024/DS-ST

Ngày: 27-8-2024

V/v tranh chấp hợp đồng góp hụi

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU KÈ, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Trúc Linh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Thạch Phới;

2. Bà Trần Thị Thúy Phượng.

Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Quốc Hi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Kè tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Thân - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 80/2024/TLST-DS ngày 20/5/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2024/QĐXXST-DS ngày 24/7/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 35/2024/QÐST-DS ngày 09/8/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Đinh Thị Kim T, sinh năm: 1971 (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp C, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Kim T1, sinh năm: 1969 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp C, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Đinh Thị Kim T là nguyên đơn trình bày:

Ngày 20/02/2014 (âm lịch) bà có làm đầu thảo hụi loại 5.000.000 đồng, loại hụi bốn tháng khui 01 lần, gồm 16 phần. Trong dây hụi trên, ở dây 1, bà Nguyễn Kim T1 tham gia 01 phần trong danh sách hụi ghi tên là “Út Thành”. Bà T1 đóng hụi sống được 01 lần rồi kêu hốt hụi ở lần khui thứ 02, kêu 2.450.000 đồng, hốt được 39.200.000 đồng (đã trừ huê hồng cho đầu thảo), sau khi hốt hụi bà T1 đóng hụi chết được 9 lần, còn 05 lần khui hụi chết thứ 12, 13, 14, 15, 16 thì bà T1 không đóng, hụi này nay đã mãn vào ngày 20/02/2019.

Nay bà yêu cầu bà T1 trả lại cho bà số tiền nợ hụi tổng cộng là 25.000.000 đồng của các lần khui thứ 12, 13, 14, 15, 16 trong dây hụi 5.000.000 đồng, bốn tháng khui một lần, gồm 16 phần mở ngày 20/02/2014 âm lịch.

Trước đây theo đơn khởi kiện ban đầu bà có yêu cầu tính lãi đối với số tiền trên theo quy định pháp luật, nay bà không yêu cầu tính lãi nữa.

Do bà bận công việc nên bà yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt bà.

Nguyễn Kim T1 là bị đơn vắng mặt nhưng có lời khai như sau:

Bà thừa nhận bà có tham gia dây hụi mở ngày 20/02/2014 (âm lịch), do bà Đinh Thị Kim T làm đầu thảo, loại hụi 5.000.000 đồng/4 tháng, gồm 16 phần bà tham gia 01 phần, ở dây 1, dây hụi trên bà đã kêu hốt ở lần khui thứ hai và bà T đã giao đủ tiền hụi hốt được cho bà đầy đủ, hiện nay bà còn nợ bà T số tiền hụi chết của 05 lần khui 12, 13, 14, 15, 16 tổng cộng là 25.000.000 đồng. Nay bà đồng ý trả cho bà T số tiền nợ hụi chết tổng cộng là 25.000.000 đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Kè phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án là đúng với quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng thì nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 357, 468, 471 của Bộ luật Dân sự; Căn cứ Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, bêu, phường; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án để xét xử theo hướng:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đinh Thị Kim T. Buộc bà Nguyễn Kim T1 phải có nghĩa vụ trả cho bà Đinh Thị Kim T số tiền nợ hụi chết là 25.000.000 đồng, của dây hụi mở ngày 20/02/2014 (âm lịch), loại hụi 5.000.000 đồng/4 tháng, gồm 16 phần do bà T làm đầu thảo. Do bà T đã không yêu cầu tính lãi đối với số tiền nợ hụi trên nên không xem xét.

Về án phí: Buộc bà Nguyễn Kim T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Đinh Thị Kim T khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Kim T1 phải trả cho bà số tiền nợ hụi chết mà bà đã đóng choàng thay. Do đó, xác định quan hệ tranh chấp là tranh chấp hợp đồng góp hụi. Bị đơn cư trú tại ấp C, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh, Tòa án nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 26, 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án và thông báo về các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho bà Nguyễn Kim T1 hợp lệ đến lần thứ hai nhưng bà T1 vẫn vắng mặt mà không có lý do chính đáng, bà Đinh Thị Kim T thì có đơn xin xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bà T1 và bà T.

[2] Về nội dung vụ án: Quá trình tố tụng bà Đinh Thị Kim T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Kim T1 phải có trách nhiệm trả cho bà số tiền nợ hụi chết mà bà đã đóng choàng thay là 25.000.000 đồng của dây hụi mở ngày 20/02/2014 (âm lịch), loại hụi 5.000.000 đồng/4 tháng, gồm 16 phần, dây 1, do bà Đinh Thị Kim T làm đầu thảo. Bị đơn bà Nguyễn Kim T1 cũng thừa nhận bà có tham gia dây hụi trên và còn nợ lại bà T số tiền hụi chết không đóng của 05 lần khui thứ 12, 13, 14, 15, 16 là 25.000.000 đồng. Nay bà đồng ý trả cho bà T số tiền nợ hụi trên, đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, có đủ cơ sở để khẳng định bà T1 có tham gia góp hụi cùng bà T ở dây hụi mở ngày 20/02/2014 (âm lịch), loại hụi 5.000.000 đồng/4 tháng, gồm 16 phần và còn nợ tiền hụi chết ở lần thứ 12, 13, 14, 15, 16 là 25.000.000 đồng. Vì vậy buộc bà Nguyễn Kim T1 phải có trách nhiệm trả lại số tiền hụi chết của lần thứ 12, 13, 14, 15, 16 không đóng mà bà Đinh Thị Kim T đã đóng thay là có cơ sở, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đinh Thị Kim T.

Về lãi suất: Do bà T không yêu cầu tính lãi đối với số tiền nợ hụi trên nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Căn cứ vào các Điều 144, 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bà Nguyễn Kim T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

[4] Quan điểm của Vị đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án là phù hợp nên được chấp nhận.

[5] Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 92, 147, 227, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 357, 468, 471 của Bộ luật Dân sự;

Căn cứ Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, bêu, phường;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đinh Thị Kim T.

Buộc bà Nguyễn Kim T1 phải có nghĩa vụ trả cho bà Đinh Thị Kim T số tiền là 25.000.000 đồng của dây hụi mở ngày 20/02/2014 (âm lịch), dây 1, loại hụi 5.000.000 đồng/4 tháng, gồm 16 phần do bà Đinh Thị Kim T làm đầu thảo.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Về án phí: Buộc bà Nguyễn Kim T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm với số tiền là 1.250.000 đồng.

Đinh Thị Kim T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho bà T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 625.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0000933 ngày 17/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Trà Vinh;
  • - VKSND huyện Cầu Kè;
  • - CC.THADS huyện Cầu Kè;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Thị Trúc Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 58/2024/DS-ST ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU KÈ, TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp hợp đồng góp hụi

  • Số bản án: 58/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng góp hụi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU KÈ, TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án dân sự về hụi, họ, bêu phường
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger