TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 58/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 26/08/2024
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Cúc.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông: Lê Thế Hai
- Ông: Nguyễn Văn Dương
- Thư ký phiên tòa: Bà Lữ Thị Hải Vân - Thư ký Tòa án nhân dân, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 08 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 144/2024/TLST – HNGĐ ngày 23 tháng 05 năm 2024 về việc ly hôn và tranh chấp nuôi con chung theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2024/QĐXX-ST ngày 01 tháng 08 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 42/2024/QĐST- HNGĐ ngày 13 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đàm Thị H – Sinh năm: 2004
HKTT: Thôn T, xã T, TX. N, Thanh Hóa.
Nơi ở hiện nay: Thôn T, xã C, tx. N, Thanh Hóa.
- Bị đơn: Anh Trần Văn T – Sinh năm: 2001
Địa chỉ: Thôn T, xã T, TX. N, Thanh Hóa.
Các đương sự đều vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai chị Đàm Thị H trình bày như sau: Chị và anh Trần Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại UBND xã C, TX. N, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 16/03/2023. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến đầu năm 2024 thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng về quan điểm sống, lối sống không hợp nhau dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã và to tiếng với nhau. Từ tháng 1/2024 (âm lịch) anh chị sống ly thân hoàn toàn cho đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Trần Diệu L – Sinh ngày: 20/4/2023, nay ly hôn chị có nguyện vọng giao Diệu L cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con chị sẽ cấp dưỡng theo quy định pháp luật.
Về tài sản và công nợ chung: Chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
Anh Trần Văn T có trình bày quan điểm của mình như sau: Anh và chị H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại UBND xã C, TX. N, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 16/03/2023. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc thời gian đầu sau đó thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do có một hôm anh đang nằm võng chơi với con thì chị H gọi anh là thằng kia, anh không nói gì thì chị H tiếp tục nói tao gọi là thằng sau, sau đó chị H lại chỗ anh nằm cầm tay con lên và nói thằng bố mày đây này. Lúc đó, anh đạp nhẹ vào người chị H một cái, chị H đánh lại anh thì anh tát chị H hai cái. Sau đó, chị H bỏ về nhà mẹ đẻ. Từ tháng 2/2024 cho đến nay anh và chị H không gặp nhau. Nay chị H làm đơn ly hôn, anh xét thấy cuộc sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn dẫn đến cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Anh không đồng ý ly hôn vì giữa anh và chị H còn nợ anh em phía bên nhà anh tiền, cụ thể nợ bao nhiêu thì anh không nhớ, khi vay nợ anh có giấy tờ gì, nên phải trả nợ xong thì anh mới ly hôn.
Về con chung: Anh chị có 01 con chung là cháu Trần Diệu L – Sinh ngày: 20/4/2023. Trong trường hợp phải ly hôn thì anh có nguyện vọng được nuôi con và yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con số tiền 2.000.000 đồng/tháng
Về tài sản và công nợ: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án là đúng với quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn tham gia tố tụng trong vụ án đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, về phía bị đơn không chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 28, 35, 39, 147 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự và các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Xử cho chị Đàm Thị H được ly hôn với anh Trần Văn T. Về con chung giao cháu Trần Diệu L cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, chị H phải cấp dưỡng nuôi con số tiền 2.000.000 đồng/tháng. Về tài sản và công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị HĐXX không xem xét. Buộc chị H phải nộp án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Đàm Thị H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Trần Văn T là tranh chấp theo quy định tại khoản 1 Điều 28 BLTTDS. Bị đơn hiện đang cư trú trên địa bàn thị xã N nên TAND Thị xã Nghi Sơn có thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa lần thứ nhất anh T vắng mặt không có lý do, Tòa án đã tiến hành tống đạt thủ tục hợp lệ, đúng theo quy định cho anh T vì vậy HĐXX áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 BLTTDS xử vắng mặt anh T. Chị H có đơn xin xét xử vắng mặt HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 228 BLTTDS xử vắng mặt chị H.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống giữa chị H và anh T đã xảy ra mâu thuẫn, bản thân chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn. Về phía anh T không đồng ý ly hôn. Tuy nhiên lý do là do vợ chồng chị còn nợ anh em nhà anh một số tiền, nên phải trả hết nợ thì anh mới ly hôn chứ không vì việc anh không muốn ly hôn là do anh chị còn nợ chung chứ không phải vì tình cảm vợ chồng vẫn còn. Xác minh tại chính quyền địa phương thể hiện chị H và anh T kết hôn hợp pháp, hiện tại chị H đã đi nơi khác sống. Về nguyên nhân mâu thuẫn địa phương không nắm được. Quá trình giải quyết vụ án do anh T không chấp hành theo thông báo phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải của Tòa án dẫn đến không thể tiến hành hòa giải được. Tại phiên tòa các đương sự đều vắng mặt vì vậy HĐXX căn cứ Điều 51, 56 Luật HN&GĐ xử cho chị H được ly hôn đối với anh T.
[3] Về con chung: Chị H và anh T có 01 con chung là Trần Diệu L – Sinh ngày: 20/4/2023. Nay ly hôn nguyên vọng của chị là giao cháu Diệu L cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng. Anh T cũng có nguyện vọng được nuôi con. Xác minh tại chính quyền địa phương thể hiện anh chị có 01 con chung, hiện tại cháu bé đang ở cùng với bố và ông bà nội. Xét thấy từ khi bố mẹ ly thân đến bây giờ cháu bé vẫn ở với bố, cháu vẫn khỏe mạnh, phát triển bình thường. Để đảm bảo cuộc sống đầy đủ và sự phát triển của các cháu sau này, HĐXX căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật HNGĐ, chấp nhận sự tự nguyện của chị H và anh T, giao cháu Diệu L cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng. Về mức cấp dưỡng: Anh T yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con số tiền 2.000.000 đồng/tháng. Chị H tự nguyện cấp dưỡng nuôi con cùng anh T. Xét thấy đây là trách nhiệm nuôi con của chị H, mức cấp dưỡng cũng phù hợp vì vậy HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 82 Luật HNGĐ chấp nhận nguyện vọng của anh T.
Về quyền đi lại, thăm nom con chung: Chị H được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cấm. Trong trường hợp chị H lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì anh T được quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của chị H.
[4] Về tài sản và công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
[5] Về án phí: Buộc chị H phải nộp án phí dân sự sơ thẩm.
[6] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Tòa án nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào: khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 và khoản 1 Điều 273 BLTTDS; Căn cứ vào các Điều 51, 56; khoản 2 Điều 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ vào điểm a khoản 5, điểm b khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Đàm Thị H
- Về hôn nhân: Xử cho chị Đàm Thị H được ly hôn với anh Trần Văn T.
- Về con chung: Chị H và anh T có 01 con chung là Trần Diệu L – Sinh ngày: 20/4/2023. Chấp nhận sự tự nguyện của chị H và anh T, giao cháu Diệu L cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng.
- Về mức cấp dưỡng: Chị H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con số tiền 2.000.000 đồng/tháng. Thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 8/2024 cho đến khi cháu Linh trưởng thành và có khả năng lao động.
- Về quyền đi lại, thăm nom con chung: Chị H được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cấm. Trong trường hợp chị H lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì anh T được quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của chị H.
- Về tài sản và công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
- Về án phí: Buộc chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn là 300.000 đồng và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0007177, ngày 23 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
- Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm vắng mặt các đương sự. Các đương sự được kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xử lại theo trình tự phúc thẩm.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự”.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Thị Cúc |
Bản án số 58/2024/HNGĐ-ST ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 58/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Quá trình chung sống giữa chị H và anh T đã xảy ra mâu thuẫn, bản thân chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn
