|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 58/2024/HS-ST
Ngày 25 - 4 - 2024
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN - TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Linh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Tạ Văn Doanh;
- Bà Vũ Thị Mai.
- Thư ký phiên toà: Ông Diệp Văn Vĩ - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn tham gia phiên toà: Ông Hoàng Thành Đạt, Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 51/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2024; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2024/HSST-QĐ ngày 12/4/2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn V, sinh năm 1994; Tên gọi khác: Không; Địa chỉ: Thôn M, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 8/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; T: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn H và bà Lê Thị T; vợ, con: không.
Nhân thân :
+ Tại bản án số 48/2013/HSST ngày 06/06/2013 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn xử phạt Nguyễn Văn V 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 05/02/2013. Bị cáo phải bồi thường cho người bị hại số tiền 267.000 đồng, phải chịu án phí hình sự, dân sự sơ thẩm. Ngày 05/05/2014 V chấp hành xong hình phạt tù; ngày 20/10/2015 chấp hành xong án phí hình sự, dân sự sơ thẩm.
+ Tại Bản án số 52/2015/HSST ngày 30/7/2015 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang áp dụng khoản 1 Điều 138, điểm p khoản 1, 2 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48, Điều 33 Bộ luật hình sự xử phạt Nguyễn Văn V 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Ngày 18/01/2017 V chấp hành xong hình phạt tù; ngày 22/8/2018 chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm.
+ Tại Bản án số 45/2018/HSST ngày 25/6/2018 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, 38 BLHS xử phạt Nguyễn Văn V 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” thời hạn tù tính từ ngày 26/03/2018, phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Tháng 08/2019 V đã chấp hành xong án phí; ngày 26/12/2020 chấp hành xong hình phạt tù. Tính đến thời điểm phạm tội này V đã được xóa án tích; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bắt tạm giam từ ngày 15/02/2024 “có mặt”.
* Bị hại:
- Chị Vi Thị T1, sinh năm 1984 “vắng mặt”.
Địa chỉ: Thôn B, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang. - Anh Phạm Hồng G, sinh năm 1999 “vắng mặt”.
Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. - Ông Trương Văn T2, sinh năm 1960 “vắng mặt”.
Địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Văn T3, sinh năm 1992 “vắng mặt”.
Địa chỉ: Thôn Y, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. - Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1987 “vắng mặt”.
Địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. - Chị Lâm Thị Đ, sinh năm 1989 “có mặt”.
Địa chỉ: Thôn T, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
* Người làm chứng:
Anh Nguyễn Mạnh H2, sinh năm 1993 “vắng mặt”.
Địa chỉ: Thôn P, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong khoảng thời gian tháng 10/2023- 11/2023 Nguyễn Văn V, sinh năm 1994, trú tại thôn M, xã K, huyện L đã 04 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản (xe mô tô) trên địa bàn xã K, xã T, huyện L, cụ thể:
Lần thứ nhất: Vào khoảng 09 giờ ngày 31/10/2023 Nguyễn Văn V đi bộ từ nhà đến chợ xã K thuộc thôn T, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang, mục đích để trộm cắp tài sản. Khi đi đến khu vực đường liên thôn phía ngoài cổng chợ, V phát hiện thấy có 01(một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu: đen trắng, biển số 98E1-071.92 của chị Vi Thị T1, sinh năm 1984, trú tại: thôn B, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang dựng ở đó, chìa khóa điện vẫn cắm ở xe. Quan sát xung quanh không thấy có người trông coi, Vũ tiến đến chỗ chiếc xe mô tô, mở khóa điện của xe rồi nổ máy điều khiển xe mô tô đi về nhà. Khi về đến nhà V mở cốp xe mô tô ra kiểm tra thấy bên trong cốp xe có 01 ví da màu vàng đã qua sử dụng, bên trong ví có 01 Căn cước công dân, 01 Giấy phép lái xe hạng A1, 01 Thẻ bảo hiểm y tế đều mang tên Phùng Văn B; 01 Căn cước công dân, 02 thẻ bảo hiểm y tế đều mang tên Vi Thị T1; 01 Thẻ bảo hiểm y tế mang tên Phùng Đại Q; 01 đăng ký xe mô tô biển số 98E1-071.92; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện mô tô biển số 98E1-071.92, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của xe mô tô biển số 98E1-071.92 đều mang tên Hoàng Văn A, bị rách. Khoảng 12 giờ cùng ngày khi V đang ở nhà thì có Nguyễn Mạnh H2, sinh năm 1993, trú tại thôn P, xã K, huyện L đến chơi. Tại đây V đã rủ H2 đi chơi rồi V điều khiển chiếc xe mô tô trộm cắp được chở H2 đến cửa hàng thu mua phế liệu của chị Lâm Thị Đ, sinh năm 1989, ở thôn T, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang bán chiếc xe mô tô trộm cắp, kèm giấy đăng ký xe cho chị Đ được số tiền 1.150.000 đồng. Chiếc ví đựng số giấy tờ còn lại Vũ cất ở trong người và sau đó đem đến tại ngôi nhà hoang tại Tổ dân phố L, thị trấn C, huyện L vất tại đó. Còn số tiền bán xe V đã tiêu xài cá nhân hết. Ngày 09/11/2023 chị Vi Thị T1 đã có đơn trình báo gửi Công an xã K, cùng ngày Công an xã K đã tiến hành xác định hiện trường nơi chị T1 bị mất xe mô tô tại thôn T, xã K, huyện L.
Ngày 10/11/2023 Công an xã K đã chuyển hồ sơ đến Công an huyện L để giải quyết theo thẩm quyền. Cùng ngày 10/11/2023 Nguyễn Mạnh H2, sinh năm 1993, trú tại thôn P, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang có đơn tố giác về việc ngày 31/10/2023 Nguyễn Văn V thực hiện hành vi trộm cắp 01 chiếc xe mô tô tại thôn T, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Ngày 10/11/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn V, sinh năm 1994, trú tại thôn M, xã K, huyện L, kết quả: Thu trên mặt bàn ngoài hiên bếp giữa hai cửa ra vào nhà bếp gồm: 01 bình ắc quy nhãn hiệu “GS” loại 12V 3,5Ah, sản xuất tại Việt Nam; 01 dao kim loại bị gãy đầu, có cán gỗ tổng chiều dài 68,5cm phần lưỡi dao rộng 3,6cm; thu tại vườn liền kề nhà ở cách phía sau tường bếp 25m gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave a, màu trắng đen, biển số 98B2-454.03 xe đã cũ, không kiểm tra chi tiết, trong cốp xe có vật kim loại hình T một đầu vát, một đầu hàn trụ rỗng bằng kim loại, đường kính đầu to 02 cm, chiều dài thanh kim loại 11,5cm, 01 quần màu đen, 01 áo màu xanh đen vắt trên cành cây vải; 01 ví da màu đen, không nhãn mác; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave S, gắn biển số 98E1-260.41, xe đã cũ, không kiểm tra chi tiết chất lượng, 01 tuốc nơ vít có cán nhựa màu vàng, đã cũ, tổng chiều dài 18cm.
Ngày 13/11/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã Yêu cầu định giá tài sản đối với chiếc xe mô tô nêu trên. Tại kết luận định giá tài sản số 163/KL-HĐĐGTS ngày 14/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, màu sơn: đen- trắng, biển số 98E1-071.92 có giá trị tại thời điểm bị chiếm đoạt là 2.800.000 đồng.
Ngày 19/12/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra Yêu cầu định giá tài sản đối với 01 chiếc ví làm bằng chất liệu da, màu vàng. Tại bản kết luận định giá tài sản số 191/KL-HĐĐGTS ngày 19/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận: 01 chiếc ví làm bằng chất liệu da, màu vàng có giá trị tại thời điểm bị chiếm đoạt là 10.000 đồng (mười nghìn đồng).
Ngày 15/02/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã bắt bị can để tạm giam đối với Nguyễn Văn V đồng thời V giao nộp 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha loại Exciter màu đen kiểm soát 98E1-571.41 để phục vụ công tác điều tra.
Ngày 10/11/2023 Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm tại tổ dân phố L, thị trấn C, huyện L phát hiện và thu giữ tại khu đất trống thuộc tổ dân phố L, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang gồm: 01 ví da màu vàng đã qua sử dụng, bên trong có 01 Căn cước công dân, 01 Giấy phép lái xe hạng A1, 01 Thẻ bảo hiểm y tế đều mang tên Phùng Văn B; 01 Căn cước công dân, 02 thẻ bảo hiểm y tế đều mang tên Vi Thị T1; 01 Thẻ bảo hiểm y tế mang tên Phùng Đại Q; 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện mô tô- xe gắn máy, giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe mô tô - xe gắn máy, tên chủ xe Hoàng Văn A biển kiểm soát 98E1-071.92; 01 (một) Giấy bán xe máy (mô tô) biển kiểm soát 98E1-071.92 bị rách.
Ngày 26/12/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L thu giữ tại gia đình chị Lâm Thị Đ, sinh năm 1989, trú tại thôn T, xã B, huyện L: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius gắn biển kiểm soát 98E1-071.92 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 98E1-071.92 mang tên Hoàng Văn A, địa chỉ B, N, L, Bắc Giang để phục vụ công tác điều tra.
Trong các ngày 26/12/2023, 30/12/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành cho Nguyễn Mạnh H2 nhận dạng Nguyễn Văn V, cho chị Lâm Thị Đ nhận dạng người đã bán chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha loại Sirius cho chị vào ngày 31/10/2023 qua bản ảnh. Kết quả anh H2 xác định người tại ảnh số 04 là Nguyễn Văn V; chị Đ xác định người tại ảnh số 04 là người đã bán chiếc xe mô tô cho chị vào ngày 31/10/2023, đó chính là Nguyễn Văn V.
Ngày 14/03/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành cho Nguyễn Văn V nhận dạng chiếc xe mô tô Vũ trộm cắp ngày 31/10/2023 qua bản ảnh. Kết quả V nhận ra chiếc xe mô tô tại ảnh số 01 là chiếc xe do V trộm cắp ngày 31/10/2023 tại thôn T, xã K, huyện L.
Lần thứ hai: Buổi sáng ngày 10/11/2023 Nguyễn Văn V đi bộ từ nhà đến thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang, mục đích tìm tài sản sơ hở để trộm cắp. Khi đi đến nhà ông Trương Văn T2, sinh năm 1960, trú tại thôn H, xã T, huyện L, V thấy cổng mở, bên trong sân có dựng 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu sơn: trắng đen bạc, biển số 98B2-454.03, xe vẫn cắm chìa khóa điện. Quan sát thấy xung quanh không có người trông coi, Vũ tiến đến chỗ dựng chiếc xe mô tô, mở khóa điện của xe rồi điều khiển xe mô tô đi về nhà cất giấu tại vườn vải của gia đình. Ngày 28/02/2024 ông Trương Văn T2 đã có đơn trình báo gửi Công an huyện L.
Ngày 12/3/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành xác định hiện trường nơi xảy ra vụ án tại gia đình ông Trương Văn T2 ở thôn H, xã T, huyện L.
Ngày 29/02/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra Yêu cầu định giá tài sản đối với chiếc xe mô tô nêu trên. Tại bản kết luận định giá tài sản số 17/KL-HĐĐ GTS ngày 01/03/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu sơn: trắng đen bạc, số khung 1213DY728201, số máy HC12E5728266, biển số 98B2-454.03 có giá trị tại thời điểm bị chiếm đoạt là 10.500.000 đồng (Mười triệu năm trăm nghìn đồng).
Ngày 14/03/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành cho Nguyễn Văn V nhận dạng chiếc xe mô tô Vũ trộm cắp ngày 10/11/2023 qua bản ảnh. Kết quả V xác định chiếc xe mô tô tại ảnh số 02 là chiếc xe mô tô V đã trộm cắp tại thôn H, xã T, huyện L ngày 10/11/2023.
Lần thứ ba và thứ tư: Khoảng 01 giờ ngày 28/11/2023 Nguyễn Văn V đi bộ từ nhà đến thôn Đ, xã T, huyện L, mục đích tìm tài sản để trộm cắp. Khi đi đến nhà anh Phạm Hồng G, sinh năm 1999, trú tại thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang, V phát hiện thấy nhà anh G không đóng cổng, bên trong sân, trước hiên nhà có dựng 02 chiếc xe mô tô, gồm 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, màu sơn đen biển số 98E1-571.41 và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Dearm, màu sơn nâu biển số 98K1-2948, chìa khóa đều vẫn cắm ở ổ điện của xe. Quan sát xung quanh thấy không có người trông coi, Vũ tiến đến chỗ dựng chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, biển số 98E1-571.41 mở khóa điện của xe rồi điều khiển xe mô tô đi về nhà cất giấu tại vườn vải của gia đình. Sau đó V tiếp tục quay lại trộm cắp chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Dearm, biển số 98K1-2948 rồi mang về nhà cất giấu. Mấy ngày hôm sau V điều khiển chiếc xe mô tô biển số 98K1-2948 đến bán cho anh Nguyễn Văn T3, sinh năm 1992, trú tại thôn Y, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh với giá 3.500.000 đồng (Ba triệu năm trăm nghìn đồng). Số tiền bán xe V đã tiêu xài cá nhân hết. Ngày 28/02/2024 anh Phạm Hồng G có đơn trình báo gửi Công an huyện L.
Ngày 29/02/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra Yêu cầu định giá tài sản đối với 02 chiếc xe mô tô nêu trên. Tại bản kết luận định giá tài sản số 17/KL-HĐĐGTS ngày 01/03/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện huyện L kết luận:
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Dream, màu sơn: nâu, số khung 112629, số máy 1133742, biển số 98K1-2948 có giá trị tại thời điểm bị chiếm đoạt là 10.500.000 đồng (Mười triệu năm trăm nghìn đồng);
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Exciter, màu sơn: đen, số khung 0610HY528950, số máy G3D4552270, biển số 98E1-571.41 có giá trị tại thời điểm bị chiếm đoạt là 14.000.000 đồng (Mười bốn triệu đồng).
Ngày 12/3/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành xác định hiện trường nơi xảy ra vụ án tại gia đình anh Phạm Hồng G ở thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang
Ngày 12/03/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã thu giữ tại gia đình anh Nguyễn Văn T3, sinh năm 1992, trú tại thôn Y, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Dream, màu sơn nâu, biển kiểm soát 98K1-2948. Đồng thời tiến hành cho anh Nguyễn Văn T3 nhận dạng qua bản ảnh người đã bán chiếc xe mô tô nêu trên cho anh. Kết quả anh T3 xác định người tại ảnh số 04 là người đã bán chiếc xe mô tô cho anh T3, đó chính là Nguyễn Văn V.
Ngày 14/03/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành cho Nguyễn Văn V nhận dạng qua bản ảnh 02 chiếc xe mô tô V đã trộm cắp ngày 27/11/2023. Kết quả V xác định chiếc xe mô tô tại ảnh số 03 và chiếc xe mô tô tại ảnh số 04 là 02 chiếc xe mô tô V đã trộm cắp tại thôn Đ, xã T, huyện L ngày 27/11/2023.
Về trách nhiệm dân sự: Những bị hại anh Trương Văn T2, anh Phạm Hồng G và chị Vi Thị T1; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn T3 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì.
Quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên. Bị cáo không ý kiến gì nội dụng bản cáo trạng cũng như bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
Tại phiên tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Lâm Thị Đ yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 1.150.000 đồng đã bỏ ra mua xe, bị cáo V đồng ý trả lại số tiền này cho chị Đ.
Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã công bố lời khai của những đương sự vắng mặt tại phiên tòa trong quá trình điều tra. Bị cáo không có ý kiến gì về lời khai của đương sự vắng mặt.
Bản cáo trạng số 66/CT-VKS ngày 05/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn V về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, đương sự không có người nào có ý kiến hoạc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về chứng cứ xác định có tội của bị cáo:
Tại phiên toà bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L, cùng toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ tháng 10/2023 đến tháng 11/2023 tại địa bàn các xã T, xã K thuộc huyện L, tỉnh Bắc Giang, Nguyễn Văn V đã 04 lần thực hiện hành vi trộm cắp 04 chiếc xe mô tô gồm: lần thứ nhất trộm cắp 01 xe mô tô biển số 98E1-071.92 trong cốp xe có 01 ví da màu vàng, có tổng giá trị 2.810.000đồng; lần thứ 2 trộm cắp 01 xe mô tô biển số 98B2-454.03, trị giá 10.500.000 đồng; lần thứ 3 trộm cắp 01 xe mô tô biển số 98E1-571.41 trị giá 14.000.000 đồng; lần thứ 4 trộm cắp 01 xe mô tô biển số 98K1-2948 trị giá 10.500.000 đồng. Tổng giá trị tài sản 04 lần V trộm cắp là 37.810.000 đồng; Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự; Hành vi của bị cáo xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản được pháp luật bảo vệ; Vì vậy đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn đã truy tố và bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử xem xét và chấp nhận.
[3] Đánh giá tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo 04 lần thực hiện hành vi phạm tội nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội từ hai lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo: Bị cáo nhân thân đã từng bị Tòa án xét xử nhiều lần. Xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo lần này là nguy hiểm cho xã hội nên cần xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho xã hội. Tuy nhiên bị cáo có tình tiết giảm nhẹ nên cần giảm hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của Nhà nước ta. Xét mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp. Về hình phạt bổ sung bằng hình phạt tiền: Do bị cáo không có nghề nghiệp và không có thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
[4] Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Anh Trương Văn T2, anh Phạm Hồng G và chị Vi Thị T1; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ; anh Nguyễn Văn T3 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Lâm Thị Đ yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền 1.150.000 đồng đã bỏ ra mua xe. Tại phiên tòa bị cáo đồng ý trả lại số tiền này cho chị Đảng vì vậy căn cứ Điều 584; Điều 585; Điều 589 Bộ luật dân sự, buộc bị cáo Nguyễn Văn V phải trả lại cho chị Đ số tiền 1.150.000 đồng.
[5] Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện L đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
[6] Các vấn đề khác:
Đối với anh Nguyễn Văn T3 là người mua chiếc nhãn hiệu Honda, loại xe Dream, màu sơn: nâu, biển số 98K1-2948 do V mang đến bán; chị Lâm Thị Đ là người mua chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, biển số 98E1-071.92 do V mang đến bán, quá trình điều tra xác định khi mua xe mô tô do V mang đến bán cả anh T3 và chị Đ đều không biết đó là tài sản do V trộm cắp mà có, do đó cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý anh T3, chị Đ.
Đối với anh Nguyễn Mạnh H2 là người đi cùng V đến nhà chị Đ bán chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius biển số 98E1-071.92 quá trình điều tra xác định khi cùng V đi bán xe H2 không biết đó là tài sản do V trộm cắp mà có, không được hưởng lợi gì. Ngày 10/11/2023 khi biết chiếc xe mô tô trên do V trộm cắp mà có, H2 đã làm đơn tố giác hành vi của V đến Công an huyện L. Do đó cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với Nguyễn Mạnh H2 là có căn cứ.
+ Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave S, biển số 98E1 - 260.41, quá trình điều tra V khai là do một người tên T4, khoảng 30 tuổi nhà ở khu vực tổ dân phố N, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang đi đến nhà V gửi vào khoảng tháng 10/2023. Khi gửi xe T4 có nói là xe của T4, ngoài ra V không biết thêm thông tin gì khác. Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô trên thuộc sở hữu của chị Hoàng Thị T5, sinh năm 1993, trú tại thôn H, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang, chị T5 khai đêm ngày 27/10/2023 chị T5 để chiếc xe mô tô trên và 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Future, màu sơn: đen - vàng - xám biển số 98E1-055.82 ở sân nhà, đến sáng ngày 28/10/2023 ngủ dậy thì phát hiện bị kẻ gian trộm cắp. Quá trình điều tra V không thừa nhận trộm cắp chiếc xe mô tô biển số 98E1 - 260.41 của chị T5 và khai không biết họ, tên đệm, địa chỉ cụ thể của người đàn ông tên T4 nên Cơ quan điều tra chưa xác minh làm rõ được đối tượng đã trộm cắp chiếc xe mô tô trên của chị T5, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tách chiếc xe mô tô biển số 98E1 - 260.41 ra để tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau là có căn cứ.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự:
- Trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 584; Điều 585; Điều 589 Bộ luật dân sự: Bị cáo Nguyễn Văn V phải trả lại cho chị Lâm Thị Đ số tiền 1.150.000 đồng.
- Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23; Điều 26 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Văn V phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V 02 (hai) năm 6 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 15/02/2024.
Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãicủa số tiền còn phải thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật THA dân sự thì người được THA dân sự, người phải THADS có quyền thỏa thuân THA yêu cầu THA, tự nguyện THA hoặc bị cưỡng chế THA theo quy định tại các điều 6,7,7ª,7b và điều 9 Luật THA dân sự thời hiệu THA được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật THA dân sự.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt hợp lệ bản án.
Án xử công khai sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thị Linh |
Bản án số 58/2024/HS-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN - TỈNH BẮC GIANG về vụ án hình sự về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 58/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN - TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xét xử
