Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN GIAO THUỶ

TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:58/2024/HS-ST

Ngày: 24-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THUỶ, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Thanh Lâm.
  • Các hội thẩm nhân dân:
    • Ông Đoàn Trung Tuyến;
    • Ông Phạm Xuân Trường.
  • Thư ký phiên toà: Ông Ngô Lê Huân - Thư ký Toà án nhân dân huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Phan Thị Xuyến - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 56/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn B, sinh năm 1975 tại huyện G, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Xóm H, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L và bà Cao Thị C; vợ là Đỗ Thị N, có 02 con; tiền án: Ngày 15-4-2022 bị Toà án nhân dân huyện Giao Thủy xử phạt 12 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 11-01-2023; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 19-11-2004 bị Toà án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 29-09-2008 bị Toà án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 17-09-2009 bị Toà án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; hiện đang tại ngoại theo lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; “Có mặt”.

- Bị hại: Chị Đoàn Thị Ngọc A, sinh năm 1981; địa chỉ: Xóm D, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; “Vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 17 giờ ngày 27-3-2024, Nguyễn Văn B (là đối tượng đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích) một mình điều khiển xe mô tô BKS 18B1-525.93 từ nhà đến khu vực bến cá T thuộc xóm H, xã G, huyện G mục đích xem ai sơ hở về tài sản thì trộm cắp. Đến nơi, B thấy 01 thùng xốp có nắp đậy để trên bờ tường chắn sóng của đê T, bên trong có 03 rọ cước đựng hải sản của chị Đoàn Thị Ngọc A không có người trông coi, B lấy 01 rọ cước đựng tôm và 01 rọ cước đựng mực rồi mang đi tiêu thụ nhưng chưa kịp nổ máy thì bị tổ tuần tra của Đồn Biên phòng Q đang làm nhiệm vụ phát hiện bắt giữ. Tổ tuần tra đã mời người chứng kiến, đưa Nguyễn Văn B cùng vật chứng về trụ sở tiến hành lập biên bản làm việc đối với B, thu giữ vật chứng là 3,8kg tôm sú biển, 4,5kg mực ống (đều còn tươi sống) và 01 xe mô tô BKS 18B1-525.93.

Ngày 30-3-2024 Đồn Biên phòng Q đã bàn giao hồ sơ, cùng vật chứng có liên quan đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G để giải quyết theo thẩm quyền.

Ngày 10-4-2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện G đã tiến hành định giá tài sản và kết luận: “01 túi tôm sú biển loại không đồng đều có trọng lượng 3,8kg có giá 200.000 đồng/kg, thành tiền 760.000 đồng; 01 túi mực ống loại không đồng đều có trọng lượng 4,5kg có giá 190.000 đồng/kg, thành tiền 855.000đ. Tổng cộng là 1.615.000 đồng”.

Bản cáo trạng số: 57/CT- VKS-GT ngày 18-6-2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định truy tố bị cáo Nguyễn Văn B về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Kiểm sát viên luận tội giữ nguyên quyết định đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự; tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Trộm cắp tài sản”; xử phạt Nguyễn Văn B từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng; không áp dụng hình phạt bổ sung. Về án phí bị cáo phải nộp theo quy định.

Bị cáo Nguyễn Văn B nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình đã thực hiện là phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo được cải tạo tại địa phương và miễn hình phạt bổ sung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G, Điều tra viên, Viện kiểm sát Nhân dân huyện G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ của vụ án nên có đủ cơ sở xác định: “Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 27 tháng 3 năm 2024, Nguyễn Văn B là đối tượng đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích, một mình điều khiển xe máy BKS 18B1-525.93 đến khu vực bến cá T thuộc xóm H, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định, lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản, Nguyễn Văn B đã trộm cắp 3,8kg tôm sú biển và 4,5kg mực ống biển của chị Đoàn Thị Ngọc A, có tổng trị giá 1.615.000 đồng thì bị tổ tuần tra của Đồn Biên phòng Q phát hiện, bắt quả tang. Như vậy hành vi của bị cáo Nguyễn Văn B đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào, bị cáo có nhân thân xấu. Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo kinh tế gia đình khó khăn, mắc bệnh hiểm nghèo. Do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[4] Về hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo B, hình phạt quy định tại điểm b khoản 1 Điều 327 của Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử thấy bị cáo mắc bệnh hiểm nghèo, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, có hướng tự cải tạo nên xét thấy chưa cần thiết buộc bị cáo phải đi tập trung cải tạo mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương (Theo đề xuất của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa) cũng đảm bảo yếu tố giáo dục, phòng ngừa.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo, bệnh tật, có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên HĐXX không phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Đoàn Thị Ngọc A đã nhận lại tài sản và không có đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không đặt ra để giải quyết.

[7] Về vật chứng của vụ án: Đối với chiếc xe mô tô BKS 18B1-525.93 đã thu giữ của Nguyễn Văn B, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của chị Đỗ Thị N (là vợ của B). Khi B sử dụng xe đi trộm cắp, chị N không biết nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G đã trả lại xe cho chị N là phù hợp.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự; tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Trộm cắp tài sản”; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng tính từ ngày tuyên án.

    Giao bị cáo Nguyễn Văn B cho Ủy ban nhân dân xã G, huyện G, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  2. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Văn B phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  3. Quyền kháng cáo: Căn cứ vào các điều 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo Nguyễn Văn B có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại chị Đoàn Thị Ngọc A vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Giao Thủy;
  • - Chi cục THADS huyện Giao Thủy;
  • - Công an huyện Giao Thủy;
  • - Bị cáo; bị hại;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T.M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thanh Lâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 58/2024/HS-ST ngày 24/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THUỶ, TỈNH NAM ĐỊNH về trộm cắp tài sản (theft of property)

  • Số bản án: 58/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Theft of property)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THUỶ, TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 ; Điều 65 của Bộ luật Hình sự; tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Trộm cắp tài sản”; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Nguyễn Văn B cho Ủy ban nhân dân xã G, huyện G, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger