|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
Bản án số: 58/2024/DS-ST
Ngày: 24 - 7 - 2024
Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đình Trường
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Bình
Ông Nguyễn Thanh Bình
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 151/2024/TLST-DS ngày 09 tháng 4 năm 2024, về “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 148/2024/QĐXXST-DS ngày 11 tháng 6 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 104/2024/QÐST-DS ngày 28 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S; địa chỉ: 2, N, phường V, quận C, Thành Phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp Luật: Ông Nguyễn Đức Thạch D; chức vụ: Tổng giám đốc;
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lương Trọng T; chức vụ: Trưởng phòng giao dịch Đ, tỉnh Bình Thuận; Địa chỉ: Số E, đường Đ, thôn D, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
Người được ủy quyền lại: Ông Hà Văn L, sinh năm 1990; nơi cư trú: Thôn D, xã M, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Có mặt.
2. Bị đơn: Bà Trương Thị Kim L1, sinh năm 1990; Nơi thường trú: Tổ F, thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo hồ sơ vụ án, cũng như tại phiên tòa nguyên đơn, người đại diện trình bày:
Ngày 22/5/2023 Ngân hàng TMCP S đã ký Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp Thẻ tín dụng (sau đây gọi tắt là hợp đồng) với bà Trương Thị Kim L1, với các nội dung như sau: Loại thẻ Visa Classic; hạn mức tín dụng 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng); lãi suất áp dụng: 33,2%/năm; ngày chốt sao kê ngày 15 hàng tháng. Trong quá trình sử dụng thẻ bà L1 đã không thanh toán đúng hạn như đã cam kết. Tính đến ngày 13/03/2024 bà L1 nợ Ngân hàng TMCP S số tiền 58.437.706 đồng, gồm dư nợ gốc và lãi quá hạn. Mặc dù Ngân hàng TMCP S đã nhiều lần thông báo, nhắc nợ và làm việc trực tiếp nhưng bà L1 không có thiện chí trả nợ. Nên Ngân hàng TMCP S khởi kiện yêu cầu toà án giải quyết: Chấm dứt Hợp đồng tín dụng ngày 22/05/2023; Buộc bà Trương Thị Kim L1 phải hoàn trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền 58.437.706 đồng và tiếp tục trả lãi phát sinh kể từ ngày 14/3/2024 cho đến khi trả dứt nợ theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
Tại phiên tòa đại diện Ngân hàng TMCP S rút yêu cầu Toà án tuyên bố Chấm dứt Hợp đồng tín dụng ngày 22/05/2023; Giữ nguyên yêu cầu Toà án buộc bà Trương Thị Kim L1 phải trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền dư nợ gốc, tiền nợ lãi quá hạn tính đến ngày 24/7/2024 là 68.262.682 đồng. Trong đó, dư nợ gốc là 53.414.410 đồng, tiền lãi quá hạn là 14.848.272 đồng và tiếp tục trả lãi quá hạn cho đến khi trả hết số tiền nợ.
Đối với bị đơn bà Trương Thị Kim L1:
Mặc dù đã được Tòa án thông báo hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp; Quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập tham gia phiên tòa, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng không có đơn khởi kiện phản tố, cũng không có ý kiến, tài liệu chứng cứ gì giao nộp cho Tòa án, cũng không tham gia làm việc và tham gia phiên tòa.
Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa về việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, các đương sự và phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
- Về tố tụng:
+ Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã tuân thủ theo đúng các quy định về pháp luật tố tụng dân sự.
+ Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm và đảm bảo đúng nguyên tắc xét xử.
+ Việc chấp hành pháp luật của các đương sự, người đại diện trong vụ án: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn, người đại diện đã chấp hành đúng các quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự về quyền và nghĩa vụ của đương sự. Bị đơn không chấp hành đúng các quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự về quyền và nghĩa vụ của đương sự.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ yêu cầu khởi kiện Chấm dứt Hợp đồng tín dụng ngày 22/05/2023 của nguyên đơn; Chấp nhận yêu cầu khởi kiện buộc bà Trương Thị Kim L1 phải trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền dư nợ gốc và lãi quá hạn đến ngày 24/7/2024 là 68.262.682 đồng và tiếp tục trả lãi cho đến khi trả hết nợ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên Toà, trên cơ sở ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Bị đơn bà Trương Thị Kim L1 hiện thường trú tại huyện Đ nên khởi kiện của nguyên đơn là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh được quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Theo đơn khởi kiện, chứng cứ do các đương sự, người đại diện cung cấp, quá trình làm việc tại Tòa án, cũng như tại phiên tòa xác định lại quan hệ tranh chấp cần giải quyết là “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” là phù hợp.
[3] Trong giai đọan chuẩn bị xét xử mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ các đương sự, người đại diện tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng bị đơn bà L1 vắng mặt không có lý do chính đáng, cũng không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử vắng mặt bị đơn bà L1 là phù hợp.
[4] Tại phiên tòa đại diện nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện, cụ thể rút yêu cầu Toà án chấm dứt hợp đồng tín dụng (Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân) ngày 22/5/2023 đã ký giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần S và bà Trương Thị Kim L1. Xét thấy, việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tự nguyện, nên Hội đồng xét xử chấp nhận, nên đình chỉ đối với yêu cầu này.
[5] Tại phiên tòa đại diện Ngân hàng TMCP S yêu cầu Tòa án buộc bà Trương Thị Kim L1 phải trả số tiền dư nợ thẻ tín dụng đến ngày 24/7/2024 là 68.262.682 đồng. Trong đó, nợ dư nợ gốc là 53.414.410 đồng, tiền lãi quá hạn 14.848.272 đồng.
Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện, nguyên đơn cung cấp cho Tòa án chứng cứ gồm “Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân”, “Thông báo nhắc nợ lần 1, ngày 07/3/2024”,“Thông báo nhắc nợ lần 2 ngày 11/3/2024”, “Thông báo nhắc nợ lần 3, ngày 13/3/2023”, “Thông báo về việc chấm dứt hợp đồng và thu hồi nợ trước hạn ngày 13/3/2024”, bảng kê chi tiết gốc, lãi thẻ tín dụng tính đến ngày 14/3/2024”; Cùng với việc nộp đơn khởi kiện nguyên đơn đã thực hiện việc sao gửi “Đơn khởi kiện”, “Thông báo nhắc nợ” cho bà L1.
Tại phiên toà đại diện nguyên đơn cung cấp chứng cứ “Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng TMCP S”, “Quyết định số 1667/2023/QĐ-TT.PTSPCN, ngày 28/6/2023”,“ Bảng mô tả nội dung thay đổi”, Quyết định số 816/2023/QĐ-TT.PTSPCN, ngày 31/3/2023”,“Biểu phí sản phẩm dịch vụ thẻ trả trước S1”, “Biểu phí sản phẩm dịch vụ thẻ trả trước Sl”, “Biểu phí sản phẩm dịch vụ thẻ ghi nợ S1”, “Phụ lục: Cơ chế thu phí thường niên”, “Phụ lục: Chính sách phí thường niên đối với S1, công ty trực thuộc...”.
Trong quá trình chuẩn bị xét xử Toà án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án số 151/TB-TLVA, ngày 09/4/2024, Thông báo kết quả phiên họp số 90/2024/TB-KQPH, ngày 28/5/2024 nhưng bà L1 không phản đối những tài liệu do Ngân hàng TMCP S đưa ra, không có đơn khởi kiện phản tố, cũng không có ý kiến phản đối hay cung cấp tài liệu, chứng cứ gì liên quan đến yêu cầu khởi kiện, cũng như các tài liệu do nguyên đơn giao nộp. Nên những tài liệu, chứng cứ nguyên đơn giao nộp là sự thật không cần phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự.
[6] Qúa trình tố tụng bà L1 không phản đối về dư nợ thẻ mà nguyên đơn đưa ra, cũng không cung cấp bất kỳ tài liệu, chứng thể hiện sau khi được cấp thẻ tín dụng đã hết trả gốc, lãi, lãi quá hạn, phí đầy đủ cho nguyên đơn. Bà L1 đã từ bỏ nghĩa vụ chứng minh nên Tòa án giải quyết vụ án theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ theo quy định khoản tại 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự.
[7] Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân giữa Ngân hàng TMCP S với Loại thẻ Visa Classic; hạn mức tín dụng 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng); lãi suất áp dụng: 33,2%/năm; ngày chốt sao kê ngày 15 hàng tháng. Tại thời điểm ký Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân các bên chủ thể tham gia giao dịch có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự, tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện; Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, lãi suất thoả thuận phù hợp với luật các tổ chức tín dụng nên Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân có hiệu lực pháp luật.
[8] Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của đại diện nguyên đơn tại phiên tòa có cơ sở xác định sau khi phát hành thẻ tín dụng và thanh toán, đối với thẻ tín dụng số 3422664288, khách hàng Trương Thị Kim L1, căn cước công dân [...] tính đến ngày 05/01/2024 số tiền bà L1 dư nợ Ngân hàng TMCP S là 53.414.410 đồng, bao gồm dư nợ gốc và lãi, phí; tuy nhiên, bà L1 không thanh toán, nên chuyển qua nợ quá hạn. Đến ngày 24/7/2024 dư nợ bà L1 chưa thanh toán cho Ngân hàng TMCP S là 68.262.682 đồng. Trong đó, nợ gốc là 53.414.410 đồng, tiền lãi quá hạn là 14.848.272 đồng, nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận.
[9] Bà Trương Thị Kim L1 có chồng là ông Nguyễn Bảo D1. Tuy nhiên, bà L1, ông D1 đã ly hôn vào năm 2021 theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự số 148/2021/QÐST-HNGĐ, ngày 26/8/2021 của Toà án nhân dân huyện Đức Linh. Tại thời điểm các bên tham gia ký kết hợp đồng ngày 22/5/2023 ghi thông tin người hôn phối để trống. Theo đại diện Ngân hàng TMCP S Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân là cấp cho cá nhân bà L1, thời điểm cấp thẻ tín dụng bà L1 độc thân và chỉ yêu cầu cá nhân bà L1 phải trả nên buộc cá nhân bà L1 phải trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền còn nợ trên là phù hợp.
[10] Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm bà Trương Thị Kim L1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng (Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân) cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.
[11] Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có căn cứ được chấp nhận nên cần buộc bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn.
[12] Các đương sự, người đại diện đều có quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Các Điều 91, 92, 147, 203; khoản 2 Điều 227; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 463, 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Các Điều 91, 94, 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010; Án lệ 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao thông qua ngày 17/10/2016 và được công bố theo quyết định số 689/QĐ-CA, ngày 17/10/2016 của Chánh án Toà án nhân dân Tối cao; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi bổ sung;
1. Tuyên xử:
1.1 Đình chỉ yêu cầu khởi kiện Toà án tuyên bố Chấm dứt Hợp đồng tín dụng (Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân) ngày 22/05/2023 giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần S và bà Trương Thị Kim L1.
1.2 Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.
Buộc bà Trương Thị Kim L1 phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền 68.262.682 đồng. (Trong đó, nợ gốc là 53.414.410 đồng, tiền lãi là 14.848.272 đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm bà Trương Thị Kim L1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng (Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân) cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.
2. Về án phí: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S không phải chịu án phí.
Hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền 1.460.000 đồng (Một triệu bốn trăm sáu mươi ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004392, ngày 09/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Linh.
Bà Trương Thị Kim L1 phải chịu 3.413.134 đồng (Ba triệu bốn trăm mười ba ngàn một trăm ba mươi tư đồng) án phí dân sự sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước.
3. Về quyền kháng cáo: Đương sự, người đại diện của đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án, để Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
4. Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Đình Trường |
g
u
yê
n
V
ă
n
Q
ú
y
Bản án số 58/2024/DS-ST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 58/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng Saccombank-Trương Thị Kim Lệ
