Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHƯƠNG MỸ

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

*****

Bản án số: 58/2024/HS-ST

Ngày: 24/05/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Long

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Tiến Lợi

Bà Nguyễn Thị Thanh Hà

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Đỗ Thị Luân – Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ tham gia phiên tòa: Bà

Triệu Thị Hồng - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 05 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số: 46/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 4 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 30/2024/HSST-QĐ ngày 17/05/2024 đối với các bị cáo:

01. Nguyễn Văn T, sinh năm 1987

Nơi đăng ký HKTT: thôn M, xã H, huyện C, Thành phố Hà Nội; cư trú tại: thôn Đ, xã H, huyện C, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị H; vợ: Bùi Thị C và 03 con (lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2021).

D chỉ bản số: 25 lập ngày 05/01/2024 tại Công an huyện C.

Nhân thân: Bản án Hình sự sơ thẩm số: 102/2018/HSST ngày 07/8/2018 Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội xử phạt 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”. Thời gian thử thách 24 tháng kể từ ngày tuyên án. Bị cáo nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm vào ngày 07/9/2018. Đã được xóa án.

Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/12/2023 đến ngày 22/03/2024.

Bị cáo hiện tại ngoại tại: thôn Đ, xã H, huyện C, Thành phố Hà Nội.

Có mặt tại phiên tòa.

02. Hà Viết T2, sinh năm 1993

Nơi đăng ký HKTT và cư trú: thôn V, xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn K và bà Nguyễn Thị M; vợ: Nguyễn Thị L.

D chỉ bản số: 21 lập ngày 05/01/2024 tại Công an huyện C.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị tạm giữ từ ngày 27/12/2023 đến ngày 05/01/2024.

Bị cáo hiện tại ngoại tại: thôn V, xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội.

Có mặt tại phiên tòa.

03. Ngô Văn Đ, sinh năm 1982

Nơi đăng ký HKTT và cư trú: thôn M, xã H, huyện C, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Tiến C1 và bà Nguyễn Thị K1; vợ: Nguyễn Thị L1 và 04 con (lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2022).

D chỉ bản số: 18 lập ngày 05/01/2024 tại Công an huyện C.

Nhân thân: Bản án Hình sự sơ thẩm số: 136/2018/HSST ngày 06/11/2018 Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội xử phạt 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”. Thời gian thử thách 18 tháng kể từ ngày tuyên án. Bị cáo nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm vào ngày 25/11/2020. Đã được xóa án.

Bị tạm giữ từ ngày 27/12/2023 đến ngày 05/01/2024.

Bị cáo hiện tại ngoại tại: thôn M, xã H, huyện C, Thành phố Hà Nội.

Có mặt tại phiên tòa.

04. Nguyễn Văn H1, sinh năm 1978

Nơi đăng ký HKTT và cư trú: thôn M, xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn K2 và bà Ngô Thị C2; vợ: Nguyễn Thị H2 và 04 con (lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2021).

D chỉ bản số: 22 lập ngày 05/01/2024 tại Công an huyện C.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị tạm giữ từ ngày 27/12/2023 đến ngày 05/01/2024.

Bị cáo hiện tại ngoại tại: thôn M, xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội.

Có mặt tại phiên tòa.

05. Nguyễn Văn B, sinh năm 1988

Nơi đăng ký HKTT và cư trú: thôn C, xã H, huyện C, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H3 và bà Cao Thị Q; vợ: Trần Thị T3 (đã ly hôn) và 02 con (lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2016).

D chỉ bản số: 23 lập ngày 05/01/2024 tại Công an huyện C.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị tạm giữ từ ngày 27/12/2023 đến ngày 05/01/2024.

Bị cáo hiện tại ngoại tại: thôn C, xã H, huyện C, Thành phố Hà Nội.

Có mặt tại phiên tòa.

06. Ngô Văn L2, sinh năm 1974

Nơi đăng ký HKTT và cư trú: thôn M, xã H, huyện C, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn H4 và bà Ngô Thị V (đều đã chết); vợ: Đặng Thị O và 03 con (lớn nhất sinh năm 1998, nhỏ nhất sinh năm 2014).

D chỉ bản số: 19 lập ngày 05/01/2024 tại Công an huyện C.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị tạm giữ từ ngày 27/12/2023 đến ngày 05/01/2024.

Bị cáo hiện tại ngoại tại: thôn M, xã H, huyện C, Thành phố Hà Nội.

Có mặt tại phiên tòa.

07. Ngô Văn L3, sinh năm 1993

Nơi đăng ký HKTT và cư trú: thôn M, xã H, huyện C, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn M1 và bà Nguyễn Thị M2; vợ: Nguyễn Thị Vân A và 02 con (lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2020).

D chỉ bản số: 24 lập ngày 05/01/2024 tại Công an huyện C.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 17/01/2024, Cơ quan Cảnh sát Điều tra – Công an huyện C tra ra quyết định bổ sung Quyết định khởi tố bị can hình sự đối với Ngô Văn L3 về tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”. Vụ án được tách ra và chuyển đến Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Thành phố H để điều tra theo thẩm quyền.

Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/12/2023.

Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 02 – Công an T.

Có mặt tại phiên tòa.

08. Nguyễn Văn Q1, sinh năm 1986

Nơi đăng ký HKTT và cư trú: thôn M, xã H, huyện C, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T4 và bà Nguyễn Thị X; vợ: Nguyễn Thị H5 và 02 con (lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2015).

D chỉ bản số: 20 lập ngày 05/01/2024 tại Công an huyện C.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị tạm giữ từ ngày 27/12/2023 đến ngày 05/01/2024.

Bị cáo hiện tại ngoại tại: thôn M, xã H, huyện C, Thành phố Hà Nội.

Có mặt tại phiên tòa.

09. Cao Đình T5, sinh năm 1990

Nơi đăng ký HKTT và cư trú: thôn C, xã H, huyện C, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Đình Đ1 và bà Nguyễn Thị H6; vợ: Nguyễn Thị Ngọc Á và 03 con (lớn nhất sinh năm 2018, nhỏ nhất sinh năm 2023).

D chỉ bản số: 98 lập ngày 02/02/2024 tại Công an huyện C.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị tạm giữ từ ngày 01/02/2024 đến ngày 02/02/2024.

Bị cáo hiện tại ngoại tại: thôn C, xã H, huyện C, Thành phố Hà Nội.

Có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo Ngô Văn L3: Luật sư Nguyễn Bá H7 – Công ty L4 – Đoàn luật sư Thành phố H.

Địa chỉ: Căn hộ S, Tòa S, khu đô thị G, số A đường H, phường P, quận B, TP Hà Nội.

Có mặt tại phiên tòa.

* Người làm chứng: Anh Phạm Văn C3, sinh năm 1978

Cư trú tại: thôn C, xã H, huyện C, Thành phố Hà Nội.

Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 00 phút, ngày 27/12/2023, Nguyễn Văn T đang ở nhà thì có Nguyễn Văn B, Ngô Văn Đ, Nguyễn Văn H1, Ngô Văn L2 đến chơi. Tại đây B, Đ, H1, L2 rủ nhau đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức đánh “chắn” tại nhà T. T đồng ý và gọi Hà Viết T2 đến để chia bài, T2 đồng ý. Sau khi T2 đến, T và T2 cùng thống nhất, trong quá trình chơi đánh “chắn”, nếu ai ù thì bỏ ra ngoài số tiền là 50.000 đồng (gọi là tiền gà), T2 là người chia bài và trực tiếp thu tiền “gà” để cuối buổi chơi thì chuyển lại tiền cho T và T sẽ trả cho T2 số tiền 300.000 đồng tiền công chia bài. T là người trải thảm trong phòng bếp của nhà T, T cung cấp 02 bộ bài “chắn” cho mọi người đánh bạc. Thiệu là người trông coi camera trong nhà để cảnh giới. Các đối tượng qui định cách chơi, nếu ai ù có “cước”, người đó bỏ ra bên cạnh chiếu 50.000 đồng (gọi là tiền “gà”) số tiền này T chủ nhà là người được hưởng. Khoảng 14 giờ 00 phút cùng ngày thì có Nguyễn Văn Q1, Ngô Văn L3 và Phạm Văn C3 đến nhà T ngồi xem. Khoảng 15 giờ 00 phút cùng ngày trong lúc các đối tượng đang đánh bạc thì bị lực lượng Công an bắt quả tang và thu giữ toàn bộ tang vật.

* Tang vật thu giữ:

  • 02 (Hai) bộ bài chắn mỗi bộ gồm 100 quân bài.
  • 01 (Một) đĩa men sứ; 02 (Hai) thảm nỉ, 01 (Một) đầu thu camera.
  • Tổng số tiền các đối tượng sử dụng đánh bạc bị thu giữ là 22.750.000 đồng (Bằng chữ: Hai mươi hai triệu, bảy trăm năm mươi nghìn đồng). Trong đó thu trên chiếu bạc số tiền 15.550.000 đồng, thu 1.400.000 đồng tiền gà cạnh chiếu bạc, thu trên người Ngô Văn Đ 3.000.000 đồng, thu trên người Nguyễn Văn B 2.800.000 đồng.

Ngoài ra Cơ quan Điều tra còn điều tra làm rõ ngày 25/12/2023, Nguyễn Văn T còn cho các đối tượng Ngô Văn L3, Nguyễn Văn Q1, Ngô Văn Đ, Cao Đình T5 đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền tại nhà mình dưới hình thức chơi đánh “chắn”. T là người trực tiếp chia bài và thu tiền “gà” của các đối tượng đánh bạc. Đến khoảng 15 giờ 00 phút cùng ngày thì các đối tượng nghỉ đánh bạc. Khi nghỉ đánh bạc Nguyễn Văn Q1 kiểm tra thắng số tiền 1.000.000 đồng, Ngô Văn L3 thắng 2.000.000 đồng, Ngô Văn Đ thua 600.000 đồng và Cao Đình T5 thua 2.400.000 đồng. Quá trình các đối tượng đánh bạc Thiệu thu tiền “gà” của các đối tượng đánh bạc với mỗi “cước” ù gà là 50.000 đồng/1 ván. Đến khi kết thúc buổi đánh bạc T đã thu được 700.000 đồng tiền “gà”.

* Tang vật các đối tượng đánh bạc ngày 25/12/2023 tự nguyện giao nộp bao gồm:

  • Ngô Văn L3 tự nguyện giao nộp số tiền 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng);
  • Nguyễn Văn Q1 tự nguyện giao nộp số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng);
  • Cao Đình T5 tự nguyện giao nộp số tiền 350.000 đồng (Ba trăm năm mươi nghìn đồng);
  • Nguyễn Văn T tự nguyện giao nộp số tiền 700.000 đồng (Bảy trăm nghìn đồng) là tiền “gà” thu được ngày 25/12/2023.

Quá trình điều tra, Cơ quan Điều tra đã làm rõ hành vi của từng bị cáo như sau:

  1. Nguyễn Văn T: Ngày 25/12/2023 T là người trải chiếu, cung cấp 02 bộ bài chắn và trực tiếp chia bài cho Ngô Văn Đ, Ngô Văn L3, Nguyễn Văn Q1, Cao Đình T5 đánh bạc, T thu được 700.000 đồng tiền “gà”. Ngày 27/12/2023 T gọi Hà Viết T2 đến chia bài và thỏa thuận với T2 sau mỗi lần chơi xong sẽ trả công cho thép là 300.000 đồng. Thiệu trực tiếp trải chiếu, cung cấp 02 bộ bài chắn, T ngồi quan sát Camera cho Ngô Văn Đ, Ngô Văn L2, Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn H1 đánh bạc, Hà Viết T2 là người chia bài, các đối tượng bỏ ra tiền “gà” là 1.400.000 đồng. Khi mọi người đang chơi thì có Nguyễn Văn Q1, Ngô Văn L3, Phạm Văn C3 vào ngồi xem.
  2. Hà Viết T2: Ngày 25/12/2023 T2 được T rủ đến nhà T2 chia bài cho các đối tượng đánh bạc nhưng T2 bận nên không đến. Đến khoảng 11 giờ ngày 27/12/2023, khi T2 đang ở nhà thì nhận được cuộc gọi của Nguyễn Văn T bảo T2 đến nhà T để chia bài. Sau đó T2 đi một mình đến nhà T. Tại đây T2 gặp Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn H1, Ngô Văn L2, Nguyễn Văn B, Ngô Văn Đ đang ngồi chơi uống nước. Khi T2 đến mọi người rủ nhau đánh bạc được dưới hình thức đánh “chắn quăng” được thua bằng tiền. Sau khi thống nhất luật chơi T lấy ra 02 bộ chắn gồm mỗi bộ 100 cây, 01 đĩa sứ, 02 thảm nỉ, phân công Thép ngồi chia bài cho các đối tượng tham gia đánh bạc, còn T ngồi theo dõi camera cảnh giới. Khoảng 14 giờ cùng ngày thì có Phạm Văn C3, Ngô Văn L3, Nguyễn Văn Q1 đến chơi và xem mọi người đánh bạc. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày thì lực lượng Công an bắt quả tang.
  3. Ngô Văn L2: Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 27/12/2023, Ngô Văn L2 mang theo số tiền 7.000.000 đồng sử dụng tất cả vào mục đích đánh bạc. L2 tham gia nhiều ván bạc có ván thắng ván thua, L2 bỏ ra 350.000 đồng tiền “gà”. Đến khi lực lượng Công an bắt quả tang L2 còn số tiền 6.100.000 đồng trên chiếu trước mặt L2. L2 đã tự nguyện giao nộp số tiền này cho lực lượng Công an.
  4. Nguyễn Văn B: Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 27/12/2023, Nguyễn Văn B mang theo số tiền 4.750.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc. Quá trình đánh bạc lúc được, lúc thua. Đến khi lực lượng Công an bắt quả tang B còn 2.800.000 đồng trên người và 3.400.000 đồng trên chiếu trước mặt B. B đã bỏ ra số tiền 400.000 đồng tiền “gà”. Số tiền trên người B đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan Công an.
  5. Nguyễn Văn H1: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 27/12/2023 cùng ngày, Nguyễn Văn H1 đến nhà T chơi, sau đó mọi người rủ nhau đánh bạc. Khi đi đánh bạc H1 mang theo số tiền 3.000.000 đồng sử dụng hết vào mục đích sử dụng đánh bạc. Quá trình đánh bạc H1 thấy Ngô Văn L3, Phạm Văn C3, Nguyễn Văn Q1 ngồi xem đánh bạc. Đến khoảng 15 giờ 00 phút cùng ngày, khi mọi người đang đánh bạc thì bị lực lượng Công an bắt quả tang. Quá trình lực lượng Công an bắt quả tang toàn bộ số tiền H1 đánh bạc còn lại 2.050.000 đồng Huấn để dưới chiếu trước mặt, số tiền này H1 tự nguyện giao nộp cho lực lượng Công an.
  6. Ngô Văn Đ: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 25/12/2023, Ngô Văn Đ đến nhà Nguyễn Văn T thấy Nguyễn Văn Q1, Ngô Văn L3, Cao Đình T5 đang ở nhà T, mọi người rủ nhau đánh bạc. Khi tham gia đánh bạc Đ có 2.750.000 đồng sử dụng hết vào mục đích đánh bạc. Quá trình đánh bạc có ván thắng, ván thua. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày các đối tượng nghỉ đánh bạc. Lúc này Đ thua 600.000 đồng, còn lại 2.000.000 đồng. Quá trình đánh bạc đến khi kết thúc Đ đã bỏ 150.000 đồng tiền “gà” cho T chủ nhà.

Sau đó khoảng gần 11 giờ trưa ngày 27/12/2023, Ngô Văn Đ đi một mình đến nhà Nguyễn Văn T chơi. Tại đây Đ gặp T, Hà Viết T2, Ngô Văn L2, Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn H1. Sau đó Đ, B, H1, L2 cùng rủ nhau đánh bạc dưới hình thức đánh “chắn” được thua bằng tiền. Khi tham gia đánh bạc Đ có số tiền 8.000.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc (Trong đó 2.000.000 đồng còn thừa lại từ buổi đánh bạc ngày 25/12/2023 và 6.000.000 đồng của Đ). Quá trình đánh bạc lúc được, lúc thua. Khoảng 15 giờ cùng ngày trong lúc đang đánh bạc bị lực lượng Công an bắt quả tang. Khi lực lượng Công an bắt quả tang Đ còn 3.000.000 đồng trên người và 4.000.000 đồng trên chiếu trước mặt. Toàn bộ số tiền này Đ tự nguyện giao nộp cho Cơ quan Công an.

  1. Ngô Văn L3: Khoảng 10 giờ 00 ngày 25/12/2023, Ngô Văn L3 đến nhà Nguyễn Văn T tham gia đánh bạc cùng với Ngô Văn Đ, Nguyễn Văn Q1 và Cao Đình T5 dưới hình thức đánh “chắn” được thua bằng tiền. Thiệu chủ nhà là người chia bài cho cả nhóm đánh bạc. Khi tham gia đánh bạc L3 mang theo 4.200.000 đồng sử dụng hết vào mục đích đánh bạc. Quá trình đánh bạc có ván thắng, ván thua đến khoảng 15 giờ cùng ngày khi tất cả nghỉ chơi đánh bạc thì L3 thắng 2.000.000 đồng.

Ngày 27/12/2023 L3 cũng đến nhà T để đánh bạc. Tuy nhiên do thiếu người đánh bạc nên L3 ngồi xem các đối tượng Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn H1, Ngô Văn Đ, Ngô Văn L2 đánh bạc. Khi L3 đang ngồi xem các đối tượng đánh bạc tại nhà Nguyễn Văn T thì bị lực lượng Công an vào bắt quả tang. L3 đã khai hành vi đánh bạc ngày 25/12/2023, đồng thời tự nguyện giao nộp số tiền 6.000.000 đồng là tiền L3 sử dụng đánh bạc và thắng bạc ngày 25/12/2023 để phục vụ công tác điều tra. Ngoài ra L3 khai nhận cũng đã bỏ ra 200.000 đồng tiền “gà” cho T chủ nhà.

  1. Nguyễn Văn Q1: Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 25/12/2023, Nguyễn Văn Q1 đến nhà Nguyễn Văn T để đánh bạc dưới hình thức đánh chắn được thua bằng tiền cùng Ngô Văn L3, Nguyễn Văn Đ2 và Cao Đình T5. Thiệu (chủ nhà) là người chia bài cho tất cả đánh bạc. Khi tham gia đánh bạc Q1 mang theo số tiền 4.200.000 đồng sử dụng hết vào mục đích đánh bạc. Quá trình tham gia đánh bạc có ván thắng, ván thua. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày khi mọi người nghỉ đánh bạc thì Q1 thắng 1.000.000 đồng.

Ngày 27/12/2023, Q1 cũng đến nhà T để đánh bạc. Tuy nhiên do chưa đủ người nên Q1 ngồi xem các đối tượng Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn H1, Ngô Văn Đ, Ngô Văn L2 đánh bạc. Trong lúc đang ngồi xem các đối tượng đánh bạc tại nhà Nguyễn Văn T đã bị lực lượng Công an vào bắt quả tang. Q1 đã khai hành vi đánh bạc ngày 25/12/2023 đồng thời tự nguyện giao nộp số tiền 5.000.000 đồng là tiền Q1 sử dụng đánh bạc và thắng bạc ngày 25/12/2023. Ngoài ra Q1 khai nhận cũng đã bỏ ra 200.000 đồng tiền “gà” cho T chủ nhà.

  1. Cao Đình T5: Khoảng 10 giờ 00 ngày 25/12/2023, Cao Đình T5 đi một mình đến nhà Nguyễn Văn T chơi. T5 gặp T chủ nhà, Ngô Văn L3, Nguyễn Văn Q1, Ngô Văn Đ. Sau đó T5, L3, Q1, Đ rủ nhau đánh bạc dưới hình thức đánh “chắn” được thua bằng tiền. Thiệu cung cấp 02 bộ bài tú lơ khơ cho các đối tượng đánh bạc. Quá trình tham gia đánh bạc T là người chia bài cho các đối tượng đánh bạc. Khi tham gia đánh bạc, Cao Đình T5 có 2.900.000 đồng sử dụng mục đích đánh bạc. Quá trình đánh bạc lúc được lúc thua. Khoảng 15 giờ cùng ngày thì nghỉ chơi. Lúc này T5 đang thua nên chỉ còn cầm về 350.000 đồng. T5 tự nguyện giao nộp số tiền này cho Cơ quan Công an. Quá trình đánh bạc T5 đã bỏ tiền “gà” là 150.000 đồng cho chủ nhà.

Cơ quan điều tra đã làm rõ tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc như sau:

  • + Ngày 27/12/2023, các bị cáo tham gia đánh bạc với tổng số tiền là: 22.750.000 đồng (Hai mươi hai triệu, bảy trăm năm mươi nghìn đồng). Trong đó: Ngô Văn L2: 7.000.000 đồng; Nguyễn Văn B: 4.750.000 đồng; Nguyễn Văn H1: 3.000.000 đồng; Ngô Văn Đ: 8.000.000 đồng.
  • + Ngày 25/12/2023, các bị cáo tham gia đánh bạc với tổng số tiền là: 14.050.000₫ (Mười bốn triệu, không trăm năm mươi nghìn đồng). Trong đó: Ngô Văn L3: 4.2000.000 đồng; Nguyễn Văn Q1: 4.200.000 đồng; Cao Đình T5: 2.900.000 đồng; Ngô Văn Đ: 2.750.000 đồng.

Với những hành vi của các bị cáo như đã nêu trên, Cáo trạng số: 44/CT-VKS-CM ngày 15/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội truy tố: Bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm c, d khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự và tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự; bị cáo Hà Viết T2 về tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm c, d khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự; các bị cáo Ngô Văn Đ, Nguyễn Văn Q1, Cao Đình T5, Ngô Văn L2, Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn H1, Ngô Văn L3 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa,

- Các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện như nội dung bản Cáo trạng đã quy kết và đều đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ giữ nguyên quan điểm truy tố. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tổ chức đánh bạc” và tội “Đánh bạc”; bị cáo Hà Viết T2 phạm tội “Tổ chức đánh bạc”; các bị cáo Ngô Văn Đ, Nguyễn Văn Q1, Cao Đình T5, Ngô Văn L2, Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn H1, Ngô Văn L3 phạm tội “Đánh bạc”.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm c, d khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 55 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Nguyễn Văn T từ 08 đến 12 tháng tù về tội “Đánh bạc”; từ 12 đến 15 tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”. Tổng hợp hình phạt buộc Nguyễn Văn T phải chịu hình phạt chung cho cả hai tội từ 20 đến 27 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Được trừ thời gian tạm giữ.
  • Áp dụng điểm c, d khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Hà Viết T2 từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Ngô Văn Đ từ 15 đến 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Được trừ thời gian tạm giữ.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Ngô Văn L3 từ 06 đến 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/12/2023.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt:
    • + Nguyễn Văn Q1 từ 08 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 16 đến 24 tháng.
    • + Cao Đình T5 từ 07 đến 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 14 đến 20 tháng.
    • + Ngô Văn L2 từ 10 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 20 đến 30 tháng.
    • + Nguyễn Văn B từ 08 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 16 đến 24 tháng.
    • + Nguyễn Văn H1 từ 07 đến 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 14 đến 20 tháng.
  • Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với tất cả các bị cáo.
  • Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy các dụng cụ đánh bạc đã thu giữ; tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 34.800.000 đồng.
  • Về án phí: Các bị cáo: Nguyễn Văn T, Hà Viết T2, Ngô Văn Đ, Nguyễn Văn Q1, Cao Đình T5, Ngô Văn L2, Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn H1, Ngô Văn L3 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1]. Về tố tụng:
    1. [1.1]. Về quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, của cơ quan truy tố, về hành vi tố tụng của Điều tra viên, của Kiểm sát viên: Đã tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự về: Khởi tố vụ án, khởi tố bị can, phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam; thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, các biện pháp điều tra như lấy lời khai bị can, lấy lời khai người làm chứng, thu giữ vật chứng, giao nhận các văn bản tố tụng cho các bị can. Các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thu thập đầy đủ, đúng trình tự theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Điều tra viên, Kiểm sát viên không mớm cung, ép cung, bức cung, dùng nhục hình đối với các bị can. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. [2]. Về nội dung:
    1. [2.1]. Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang, tang vật thu giữ, lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng 11h ngày 27/12/2023, tại nhà ở của Nguyễn Văn T tại thôn Đ, xã H, huyện C, Thành phố Hà Nội. Nguyễn Văn T, đã có hành vi tổ chức cho các bị cáo Ngô Văn Đ, Nguyễn Văn H1, Nguyễn Văn B, Ngô Văn L2 đánh bạc dưới hình thức đánh “chắn” sát phạt nhau bằng tiền nhằm thu lời bất chính từ tiền “gà”. Hà Viết T2 được Nguyễn Văn Thiệu phân công chia bài cho các bị cáo Ngô Văn Đ, Nguyễn Văn H1, Nguyễn Văn B, Ngô Văn L2 đánh bạc. Khi các đối tượng đang đánh bạc thì bị lực Công an huyện C bắt quả tang. Thu giữ: 02 bộ bài chắn mỗi bộ gồm 100 quân bài; 01 đĩa men sứ; 02 thảm nỉ và 01 đầu thu camera. Tổng số tiền các đối tượng sử dụng đánh bạc là 22.750.000 đồng (Hai mươi hai triệu, bảy trăm năm mươi nghìn đồng).

Ngoài ra, ngày 25/12/2023 cũng tại nhà Nguyễn Văn T, T cung cấp 02 bộ bài chắn và trực tiếp chia bài cho Ngô Văn Đ, Ngô Văn L3, Cao Đình T5, Nguyễn Văn Q1 đánh bạc bằng hình thức đánh “chắn” đồng thời T là người trực tiếp thu tiền “gà”. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc là 14.050.000 đồng (Mười bốn triệu, không trăm năm mươi nghìn đồng).

  • + Bị cáo Nguyễn Văn T là chủ nhà, ngày 25/12/2023 đã có hành vi cho các bị cáo Ngô Văn Đ, Ngô Văn L3, Nguyễn Văn Q1, Cao Đình T5 sử dụng nhà ở của mình đánh bạc bằng hình thức đánh “chắn” sát phạt nhau bằng tiền, T là người trực tiếp chia bài và thu tiền “gà” của các đối tượng đánh bạc, tổng số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc được xác định là 14.050.000 đồng. Hành vi mà T thực hiện ngày 25/12/2023 đã đồng phạm với các bị cáo tham gia đánh bạc về tội “Đánh bạc” với vai trò đồng phạm giúp sức theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Ngày 27/12/2023, T là người trực tiếp chuẩn bị 02 bộ bài “chắn”, trực tiếp trải 02 thảm và gọi điện cho Hà Viết T2 đến để chia bài và thu tiền “gà” của của các bị cáo Ngô Văn Đ, Nguyễn Văn H1, Nguyễn Văn B, Ngô Văn L2 tham gia đánh bạc, còn T là người trông C4 để cảnh giới, tổng số tiền mà các bị cáo tham gia đánh bạc ngày 27/12/2023 được xác định là 22.750.000 đồng. Hành vi mà T thực hiện ngày 27/12/2023 đã phạm tội “Tổ chức đánh bạc” với tình tiết “Tổng số tiền hiện vật dùng đánh bạc trong cùng một lần trị giá 20.000.000 đồng trở lên” và tình tiết “……phân công người phục vụ khi đánh bạc” theo quy định tại điểm c, d khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự.
  • + Bị cáo Hà Viết T2 được Nguyễn Văn T phân công chia bài cho các bị cáo đánh bạc ngày 27/12/2023 nên hành vi mà Hà Viết T2 thực hiện đã đồng phạm với Nguyễn Văn T về tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm c, d khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự.
  • + Các bị cáo Ngô Văn Đ, Ngô Văn L3, Nguyễn Văn Q1, Cao Đình T5 đã có hành vi “Đánh bạc” sát phạt nhau bằng tiền ngày 25/12/2023 với tổng số tiền là 14.050.000 đồng; các bị cáo Ngô Văn Đ, Nguyễn Văn H1, Nguyễn Văn B, Ngô Văn L2 đã có hành vi “Đánh bạc” sát phạt nhau bằng tiền ngày 27/12/2023 với tổng số tiền là 22.750.000 đồng đã phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Do vậy, Cáo trạng số: 44/CT-VKS-CM ngày 15/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội đã truy tố: Bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm c, d khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự và tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự; bị cáo Hà Viết T2 về tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm c, d khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự; các bị cáo Ngô Văn Đ, Nguyễn Văn Q1, Cao Đình T5, Ngô Văn L2, Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn H1, Ngô Văn L3 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

  1. [2.2]. Vụ án có tính chất đồng phạm, xét vai trò của từng bị cáo trong vụ án:
    • + Bị cáo Nguyễn Văn T: Nguyễn Văn T là chủ nhà, ngày 25/12/2023 đã cho các bị cáo Ngô Văn L3, Nguyễn Văn Q1, Ngô Văn Đ, Cao Đình T5 đánh bạc tại nhà của mình và trực tiếp chia bài để các đối tượng đánh bạc và ngày 27/12/2023 đã trực tiếp chuẩn bị 02 bộ bài “chắn”, trải thảm, gọi diện cho Hà Viết T2 đến chia bài để tổ chức cho Nguyễn Văn B, Ngô Văn Đ, Nguyễn Văn H1, Ngô Văn L2 đánh bạc với mục đích thu lời bất chính từ tiền “gà”. Bị cáo có nhân thân xấu, năm 2018 bị Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội xử phạt 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Gá bạc”. Mặc dù đã được xoá, nhưng điều đó thể hiện bị cáo đã được cải tạo, giáo dục nhưng vẫn không chịu tu dưỡng bản thân nay lại tiếp tục phạm tội cùng loại. Do vậy, cần phải có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và có thời gian cách ly bị cáo ra khỏi xã hội để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt, biết tuân thủ pháp luật.
    • + Bị cáo Hà Viết T2 được bị cáo Nguyễn Văn T thuê đến để chia bài với mục đích thu lời bất chính từ tiền “gà” do T chia sau khi kết thúc ván bạc. Mặc dù Hà Viết T2 nhân thân chưa có tiền án tiền sự, nhưng hành vi mà T2 thực hiện là nghiêm trọng. Do vậy, cần phải có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt.
    • + Bị cáo Ngô Văn Đ tham gia đánh bạc trong 02 ngày (ngày 25/12 và ngày 27/12), tổng số tiền bị cáo sử dụng để đánh bạc trong 02 ngày là 10.750.000 đồng nhiều hơn các bị cáo khác trong vụ án. Bị cáo có nhân thân xấu, năm 2018 bị Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội xử phạt 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”. Mặc dù đã được xoá, nhưng điều đó thể hiện bị cáo đã được cải tạo, giáo dục nhưng vẫn không chịu sửa chữa nay lại tiếp tục phạm tội cùng loại. Do vậy, cần phải có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt.
    • + Bị cáo Ngô Văn L3, ngày 27/12/2023 bị cáo chỉ ngồi xem các bị cáo khác đánh bạc, khi bị bắt giữ bị cáo đã thành khẩn khai nhận có tham gia đánh bạc tại nhà của bị cáo Nguyễn Văn T ngày 25/12/2023, quá trình Cơ quan Công an kiểm tra điện thoại phát hiện bị cáo có hành vi “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”, bị cáo đã thành khẩn khai nhận. Do vậy, cũng cần có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và có thời gian cách ly bị cáo ra khỏi xã hội đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt.
    • + Các bị cáo Nguyễn Văn Q1, Cao Đình T5, Ngô Văn L2, Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn H1, Ngô Văn L3 tham gia đánh bạc với số tiền từ 3.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng. Mặc dù cả 06 bị cáo nhân thân đều chưa có tiền án, tiền sự nhưng cũng cần có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo để giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành người công dân tốt.
  2. [2.3] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Ngô Văn Đ tham gia đánh bạc 02 lần vào các ngày 25/12/2023 và ngày 27/12/2023 nên thuộc trường hợp “Phạm tội hai lần trở lên” là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
  3. [2.4] Về tình tiết giảm nhẹ:
    • + Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo: Nguyễn Văn T, Hà Viết T2, Ngô Văn Đ, Nguyễn Văn Q1, Cao Đình T5, Ngô Văn L2, Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn H1, Ngô Văn L3 đều thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải nên tất cả các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
    • Các bị cáo Nguyễn Văn Q1, Cao Đình T5, Ngô Văn L2, Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn H1, Ngô Văn L3 nhân thân đều chưa có tiền án, tiền sự phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
    • Bị cáo Nguyễn Văn T bị cụt 01 cánh tay có xác nhận của Hội người khuyết tật và có ông nội vợ là liệt sỹ Bùi Văn B1 nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử nhận thấy: Các bị cáo bị cáo Hà Viết T2, Nguyễn Văn Q1, Cao Đình T5, Ngô Văn L2, Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn H1 trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đều thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội đã thực hiện; các bị cáo Q1, T5, L2, B, H1 đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Các bị cáo bị cáo nêu trên đều có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cần áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự để xem xét cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ giáo dục bị cáo trở thành người tốt nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

  1. [2.5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 322 Bộ luật Hình sự, các bị cáo Nguyễn Văn T và bị cáo Hà Viết T2 phạm tội “Tổ chức đánh bạc” còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng và theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự, các bị cáo phạm tội “Đánh bạc” còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Xét các bị cáo trong vụ án đều có hoàn cảnh gia đình khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho các bị cáo, tạo điều kiện để bị cáo yên tâm cải tạo.
  2. [3]. Về xử lý vật chứng:
    • + 02 (hai) bộ bài chắn, mỗi bộ A1 quân; 01 (một) đĩa men sứ; 02 (hai) thảm nỉ đều là phương tiện các bị cáo sử dụng để đánh bạc và là tang vật của vụ án, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
    • + 01(một) đầu thu camera nhẫn hiệu Dahua là vật chứng của vụ án cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.
    • + Số tiền 34.800.000 đồng là tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc và là phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.
  3. [4]. Về án phí:

Các bị cáo: Các bị cáo: Nguyễn Văn T, Hà Viết T2, Ngô Văn Đ, Nguyễn Văn Q1, Cao Đình T5, Ngô Văn L2, Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn H1, Ngô Văn L3 mỗi mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. 1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tổ chức đánh bạc” và tội “Đánh bạc”; bị cáo Hà Viết T2 phạm tội “Tổ chức đánh bạc”; các bị cáo Ngô Văn Đ, Nguyễn Văn Q1, Cao Đình T5, Ngô Văn L2, Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn H1, Ngô Văn L3 phạm tội “Đánh bạc”.
  2. 2. Về Điều luật áp dụng và hình phạt:
    • * Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm c, d khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 55 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Nguyễn Văn T 08 (Tám) tháng tù về tội “Đánh bạc” và 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”. Tổng hợp hình phạt buộc Nguyễn Văn T phải chịu hình phạt chung cho cả hai tội là 20 (Hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 27/12/2023 đến ngày 22/03/2024.
    • * Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Ngô Văn Đ 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 27/12/2023 đến ngày 05/01/2024.
    • * Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Ngô Văn L3 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/12/2023.
    • * Áp dụng điểm c, d khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Hà Viết T2 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 30 (Ba mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
    • * Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt:
      • + Nguyễn Văn Q1 08 (Tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 16 (Mười sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
      • + Cao Đình T5 07 (Bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 14 (Mười bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
      • + Ngô Văn L2 10 (Mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 20 (Hai mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
      • + Nguyễn Văn B 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
      • + Nguyễn Văn H1 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
    • Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với tất cả các bị cáo.
  3. Giao các bị Hà Viết T2, Nguyễn Văn H1 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo Hà Viết T2, Nguyễn Văn H1 có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục đối với các bị cáo trong thời gian thử thách.
  4. Giao các bị Nguyễn Văn Q1, Ngô Văn L2 cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, Thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo Nguyễn Văn Q1, Ngô Văn L2 có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục đối với các bị cáo trong thời gian thử thách.
  5. Giao các bị Cao Đình T5, Nguyễn Văn B cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, Thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo Cao Đình T5, Nguyễn Văn B có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục đối với các bị cáo trong thời gian thử thách.
  6. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Luật thi hành án hình sự.
  7. Trong thời gian thử thách, nếu các bị cáo được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc các bị cáo được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
  8. 3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47; khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:
    • + Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) bộ bài chắn, mỗi bộ A1 quân; 01 (một) đĩa men sứ; 02 (hai) thảm nỉ.
    • + Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01(một) đầu thu camera nhẫn hiệu Dahua. (tình trạng như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/5/2024 giữa Công an huyện C và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội).
    • + Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 34.800.000 đồng (Bằng chữ: Ba mươi tư triệu, tám trăm nghìn đồng) hiện gửi tại tài khoản số 3949.0.1052753.00000 Kho bạc Nhà nước huyện C (theo Ủy nhiệm chi ngày 24/05/2024).
  9. 4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo: Nguyễn Văn T, Hà Viết T2, Ngô Văn Đ, Nguyễn Văn Q1, Cao Đình T5, Ngô Văn L2, Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn H1, Ngô Văn L3 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
  10. 5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015: Các bị cáo: Nguyễn Văn T, Hà Viết T2, Ngô Văn Đ, Nguyễn Văn Q1, Cao Đình T5, Ngô Văn L2, Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn H1, Ngô Văn L3 có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - VKSND huyện Chương Mỹ;
  • - Công an huyện Chương Mỹ;
  • - CC THA dân sự huyện Chương Mỹ;
  • - Sở Tư pháp thành phố Hà Nội;
  • - Các bị cáo;
  • - UBND nơi bị cáo cư trú;
  • - Lưu: Hồ sơ, VT.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Hoàng Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 58/2024/HS-ST ngày 24/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự sơ thẩm (tội tổ chức đánh bạc và đánh bạc)

  • Số bản án: 58/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tuyên bố bị cáo phạm tội
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger