Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MƯỜNG NHÉ

TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 58/2024/HS-ST

Ngày 23-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG NHÉ, TỈNH ĐIỆN BIÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thị Nhung.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Vàng Văn Toàn

Ông Vi Văn Thuy

Thư ký phiên tòa: Bà Vi Tố Uyên - Thư ký Toà án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thương - Kiểm sát viên.

Ngày 23/8/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên. Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 57/2024/TLST-HS ngày 24/7/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2024/QĐXXST-HS ngày 09/8/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Chang Bờ Ph; Sinh năm 1997 tại xã S, huyện M, tỉnh Điên Biên; Nơi cư trú: Bản S, xã S, huyện M, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Nông nghiệp; Trình độ văn hoá: 10/12; Dân tộc: Hà Nhì; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Chang Vàng X (sinh năm 1958) và bà Chang Tư X (sinh năm 1964); bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo chưa bị kết án, chưa bị xử phạt, xử lý hành chính; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/4/2024 đến ngày 28/4/2024, bị tạm giam từ 28/4/2024 đến nay, có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Pờ Go L, Luật sư thực hiện trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên, có mặt.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Sừng Sừng M, sinh năm 1980, trú tại: Bản L, xã L, huyện M, tỉnh Điên Biên, có mặt.

Chị Pờ Go M, sinh năm 2001, trú tại: Bản L, xã L, huyện M, tỉnh Điên Biên, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ ngày 18/4/2024 Chang Bờ Ph đang ở nhà Sừng Sừng M (ở bản L, xã L, huyện M) chơi thì lên cơn nghiện ma túy nên Ph đã mượn xe mô tô của bà M nói dối là đi chơi, khi được bà Mé đồng ý cho mượn xe mô tô, Ph mang theo 150.000 đồng và điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, biển kiểm soát 27S1-100.45 lên khu vực bản Đ, xã Ch, huyện M, tỉnh Điện Biên tìm mua ma túy về sử dụng, khi đi đến bản Đ Ph gặp một người phụ nữ dân tộc Hà Nhì lạ mặt và mua được của người phụ nữ đó 01 gói nhỏ Heroine được gói trong mảnh nilon trong suốt với giá tiền 150.000 đồng. Sau khi đưa ma túy cho Ph người phụ nữ lạ mặt đi đâu Phạ không biết, còn Ph cất số ma túy vừa mua được ở trong tay trái và điều khiển xe mô tô quay về nhà Sừng Sừng M. Đi được khoảng 15 phút Ph dừng lại lấy một ít ma túy để sử dụng, số Heroine còn lại Ph cất ở tay trái rồi điều khiển xe mô tô quay về nhà bà M, cất giấu số ma túy còn lại ở giường ngủ nhà M, sau đó ra ăn cơm với bà M, đến 21 giờ cùng ngày Ph đi ngủ ở giường mà Ph cất giấu ma túy, còn bà M ngủ ở giường riêng. Đến 09 giờ 40 phút ngày 19/4/2024 Ph ngồi trên giường chuẩn bị lấy ma túy ra sử dụng thì bị tổ công tác Công an huyện Mường Nhé phối hợp với Đồn biên phòng Leng Su Sìn và công an xã L phát hiện, bắt quả tang. Tổ công tác thu giữ của Ph 01 gói Heroine ở trên giường có khối lượng 0,27 gam được gói trong mảnh nilon trong suốt và 01 xe mô tô Honda biển kiểm soát 27S1-10045. Phạ khai nhận mục đích mua ma túy về để sử dụng cho bản thân.

Kết luận giám định số 751/KL-KTHS ngày 27/4/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Vật chứng thu giữ của Chang Bờ Ph có khối lượng 0,27 gam là chất ma túy: Loại Heroine; Hoàn lại đối tượng giám định (0,23 gam Heroine) và 01 mảnh nilon trong suốt.

Quá trình điều tra đã làm rõ, chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, biển kiểm soát 27S1-10045, số máy JA39E2718631, số khung RLHJA3928NY221782 là của chị Pờ Go M, sinh năm 2001, trú tại bản L, xã L, huyện M, tỉnh Điên Biên.

Ngày 14/7/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mường Nhé đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Pờ Go M chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, biểm kiểm soát 27S1-100.45, số máy JA39E2718631, số khung RLHJA3928NY221782 (kèm chìa khóa xe).

Cáo trạng số 39/CT-VKS-MN ngày 23/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé đã truy tố Chang Bờ Ph để xét xử về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên Cáo trạng truy tố, phần luận tội đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị: Tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, về hình phạt chính, đề nghị xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù; không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự; Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị: Tịch thu tiêu hủy số Heroine được hoàn lại sau giám định là 0,23 gam và 01 mảnh nilon trong suốt; Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội và xét đơn đề nghị miễn án phí của bị cáo đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo nhất trí với Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát, nhất trí với luận tội về tội danh; điều khoản áp dụng; hình phạt bổ sung; xử lý vật chứng vụ án và án phí; phần hình phạt chính đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã tóm tắt ở trên và đúng như Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo không tranh luận gì với Luận tội của Viện kiểm sát. Lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Sừng Sừng M và chị Pờ Go M tại phiên tòa trình bày: Chị M không quen biết bị cáo Phạ, ngày 14/4/2024 chị Minh mang xe mô tô nhãn hiệu HONDA, biểm kiểm soát 27S1-10045 cho mẹ là bà Sừng Sừng M mượn, rồi chị M về nhà. Sau đó bà M lại cho bị cáo Ph mượn xe mô tô. Chị M và bà M không biết gì về việc bị cáo Ph dùng xe mô tô này đi mua ma túy. Chị M đã nhận lại xe mô tô và không đề nghị gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Xét hành vi phạm tội và những căn cứ xác định tội danh của bị cáo:

    Tại phiên tòa bị cáo Chang Bờ Ph khai: Khoảng 16 giờ ngày 18/4/2024 bị cáo mượn xe mô tô nhãn hiệu HONDA, biểm kiểm soát 27S1-10045của bà Sừng Sừng M đi đến bản Đ, xã Ch, huyện M tìm mua Heroine về để sử dụng. Đi đến bản Đ, bị cáo gặp và mua được 0,27 gam Heroine được gói trong mảnh ni lon trong suốt của một người phụ nữ dân tộc Hà Nhì lạ mặt với giá tiền 150.000 đồng. Sau khi mua được ma túy người phụ nữ lạ mặt đi đâu bị cáo không biết, còn bị cáo cất số ma túy vừa mua được ở lòng bàn tay trái và điều khiển xe mô tô quay về nhà bà M. Đi được khoảng 15 phút bị cáo dừng lại lấy một ít Heroine để sử dụng, số Heroine còn lại bị cáo cất ở tay trái rồi điều khiển xe mô tô quay về nhà bà M, cất giấu số ma túy còn lại ở giường ngủ nhà M, sau đó ra ăn cơm với bà M, đến 21 giờ cùng ngày bị cáo đi ngủ ở giường mà bị cáo cất giấu ma túy, còn bà M ngủ ở giường riêng. Đến 09 giờ 40 phút ngày 19/4/2024 bị cáo ngồi trên giường chuẩn bị lấy ma túy ra sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang. Tổ công tác thu giữ của Ph 01 gói Heroine ở trên giường có khối lượng 0,27 được gói trong mảnh nilon trong suốt và 01 xe mô tô Honda biển kiểm soát 27S1-10045. Mục đích bị cáo mua Heroine về để sử dụng cho bản thân. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai và các bản cung có trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm thực hiện hành vi phạm tội, phù hợp với Kết luận giám định, Kết luận điều tra, Cáo trạng truy tố và các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ căn cứ để xác định hành vi tàng trữ trái phép 0,27 gam Heroine với mục đích để sử dụng của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé truy tố bị cáo để xét xử về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

  2. [2] Xét tính chất vụ án: Đây là vụ án nghiêm trọng về ma túy, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách thống nhất quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, đi ngược lại đường lối chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước trong việc đấu tranh phòng ngừa các tội phạm về ma túy, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

  3. [3] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo thành khẩn khai báo, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

  4. [4] Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy cần xử phạt bị cáo nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Xét đề nghị của Viện kiểm sát và người bào chữa là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật nên cần xử phạt bị cáo như đề nghị của Viện kiểm sát và người bào chữa.

  5. [5] Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, bị cáo còn có thể chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền, tuy nhiên xét hoàn cảnh kinh tế gia đình của bị cáo khó khăn, xác minh tại nơi ở của bị cáo không có tài sản gì có giá trị, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát và người bào chữa không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

  6. [6] Đối với người phụ nữ dân tộc Hà Nhì lạ mặt đã bán ma túy cho bị cáo, do bị cáo không biết tên tuổi địa chỉ của người này, Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh nên không có cơ sở để xử lý.

    Đối với bà Sừng Sừng M, quá trình điều tra đã làm rõ bà M không biết gì về việc bị cáo Ph đi mua ma túy và cất giấu ma túy trong giường ngủ ở nhà M, do vậy không đặt vấn đề xử lý về hình sự đối với bà M trong vụ án này.

  7. [7] Về xử lý vật chứng:

    Đối với 0,23 gam Heroine được hoàn lại sau khi đã giám định (Khối lượng Heroine thu giữ là 0,27 gam, đã gửi toàn bộ giám định, hoàn lại mẫu vật sau khi giám định là 0,23 gam Heroine) và 01 mảnh nilon trong suốt, xét thấy đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành, vật chứng không có giá trị sử dụng cần căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu, tiêu hủy.

    Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, biểm kiểm soát 27S1-10045, số máy JA39E2718631, số khung RLHJA3928NY221782, quá trình điều tra làm rõ xe mô tô thuộc quyền sở hữu của chị Pờ Go M, chị M cho bà M mượn và bà M cho bị cáo Ph mượn lại, chị M và bà M không biết gì về việc bị cáo dùng xe này đi mua ma túy, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị M (chủ sở hữu hợp pháp) là đúng quy định tại khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  8. [8] Về án phí: Xét thấy bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số, thường trú ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và đã có đơn đề nghị miễn án phí nên căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

  9. [9] Về quyền kháng cáo: Theo quy định tại các Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án.

  10. [10] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mường Nhé, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người bào chữa. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người bào chữa đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

  1. Tuyên bố bị cáo Chang Bờ Ph phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý". Xử phạt bị cáo Chang Bờ Ph 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, ngày 19/4/2024.
  2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu huỷ 0,23 gam Heroine còn lại sau khi đã trích giám định và 01 mảnh nilon trong suốt. Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/7/2024 giữa Công an huyện Mường Nhé và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Nhé.
  3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
  4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 23/8/2024). Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 23/8/2024).

Nơi nhận:

  • - Phòng KTNV-THA (TAND tỉnh Điện Biên);
  • - VKSND tỉnh Điện Biên;
  • - VKSND huyện Mường Nhé;
  • - Nhà tạm giữ, Cơ quan THAHS, Cơ quan CSĐT, bộ phận hồ sơ nghiệp vụ Công an huyện Mường Nhé;
  • - Chi cục THADS huyện Mường Nhé;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên;
  • - Bị cáo; Người bào chữa;
  • - Người có QL và NVLQ;
  • - Lưu HS, HSTHA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Thị Nhung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 58/2024/HS-ST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG NHÉ, TỈNH ĐIỆN BIÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 58/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG NHÉ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chang Bờ Ph
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger