|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TAN CHÂU TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 58/2024/HNGĐ-ST Ngày: 23/7/2024 V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH ANGIANG.
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Thế Minh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Trường Vũ;
- Bà Ngô Kim Quyên.
Thư ký phiên toà: Bà Dương Thị Mộng Thu - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hoài - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Tân Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 114/2024/TLST-HNGĐ ngày 25/3/2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 98/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 6 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số: 102/2024/QĐST- HNGĐ ngày 05/7/2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thu S, sinh năm 1977; địa chỉ cư trú: Tổ A, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang; có đơn xin vắng mặt ngày 05/7/2024
- - Bị đơn: Ông Nguyễn Hồng Đ (Nguyễn Văn H), sinh năm 1971; địa chỉ cư trú: Tổ I, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 26/02/2024, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị Thu S trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Giữa tôi với ông Nguyễn Văn H (Nguyễn Hồng Đ) tự tìm hiểu, được cha mẹ hai bên đồng ý, chúng tôi tổ chức lễ cưới vào năm 1994. Chúng tôi không có đi đăng ký kết hôn.
Thời gian đầu vợ chồng sống chung có hạnh phúc. qua thời gian chung sống thì xảy ra mâu thuẫn như bất đồng quan điểm, thường xảy ra cự cãi nhau, mặt khác do khó khăn về kinh tế, thường xảy ra lủng củng mà đỉnh điểm là tháng 6/2019 thì xảy ra cự cãi nhau nên tôi bỏ đi làm ăn xa để gửi tiền về trả nợ. vợ chồng cũng không còn sống chung từ tháng 6/2019 cho đến nay.
Nhận thấy tôi và ông Đ sống chung không phù hợp, vợ chồng không còn thương yêu quan tâm đến nhau, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt. Yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn ông Nguyễn Hồng Đ (H).
- Về nuôi con chung: Tôi với ông Đ có 02 đứa con chung tên Nguyễn Thị Yến L, sinh ngày 03/11/1999 và Nguyễn Thành L1, sinh ngày 28/8/1995, hiện 02 cháu đã trường thành.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn ông Nguyễn Hồng Đ (Nguyễn Văn H) trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Giữa tôi với bà Nguyễn Thị Thu S tự tìm hiểu, được cha mẹ hai bên đồng ý, chúng tôi tổ chức lễ cưới vào năm 1994. Chúng tôi không có đi đăng ký kết hôn.
Thời gian đầu vợ chồng sống chung có hạnh phúc. Qua thời gian chung sống thì có xảy ra mâu thuẫn như bất đồng quan điểm, thường xảy ra cự cãi nhau, mặt khác do khó khăn về kinh tế, thường xảy ra lủng củng mà đỉnh điểm là tháng 6/2019 thì xảy ra cự cãi nhau nên bà S bỏ đi. vợ chồng cũng không còn sống chung từ tháng 6/2019 cho đến nay.
Nhận thấy tôi và bà S sống chung không phù hợp, vợ chồng không còn thương yêu quan tâm đến nhau, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt. Tôi đồng ý ly hôn với bà S.
- Về nuôi con chung: Tôi với bà S có 02 đứa con chung tên Nguyễn Thị Yến L, sinh ngày 03/11/1999 và Nguyễn Thành L1, sinh ngày 28/8/1995, hiện 02 cháu đã trường thành.
- Về tài sản chung: Không có. Không yêu cầu Tòa án giải quyết
- Về nợ chung: Không có. Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Biên bản xác minh ngày 17/6/2024 của UBND phường L cung cấp về tình trạng hôn nhân của bà Nguyễn Thị Thu S và ông Nguyễn Văn H (Đ) thể hiện: Qua tra cứu hồ sơ lưu trữ tại UBND phường L, thị xã T, tỉnh An Giang, không tìm thấy thông tin đăng ký kết hôn giữa bà Nguyễn Thị Thu S, sinh năm 1977 và ông Nguyễn Văn H (Nguyễn Văn Đ1), sinh năm 1971.
Biên bản xác minh ngày 17/6/2024 của UBND phường L cung cấp về tình trạng hôn nhân của bà Nguyễn Thị Thu S và anh Nguyễn Văn H thể hiện: Qua tra cứu hồ sơ lưu trữ tại UBND phường L, thị xã T, tỉnh An Giang, từ thời gian tháng 12/2009 đến nay không tìm thấy thông tin đăng ký kết hôn giữa bà Nguyễn Thị Thu S, sinh năm 1977 và ông Nguyễn Văn H (Nguyễn Văn Đ1), sinh năm 1971.
Biên bản xác minh ngày 08/7/2024 Công an phường L cung cấp thông tin: Ông Nguyễn Hồng Đ, sinh năm 1971 (tên gọi bên ngoài là H) thường trú tại tổ I, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang. Ông Đ là con ông Nguyễn Văn X, bà Thái Thị T, vợ là Nguyễn Thị Thu S.
Toà án tiến hành lập biên bản kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và biên bản hòa giải nhưng không thành.
Hội đồng xét xử công bố biên bản xác minh ngày 17/6/2024 của UBND phường L, UBND phường L và Biên bản xác minh ngày 08/7/2024 của Công an phường L.
Tại phiên tòa, bà S vắng mặt và ông Đ giữ nguyên yêu cầu.
Ông Đ xác định đã cung cấp đầy đủ chứng cứ cho Tòa án, không còn cung cấp thêm chứng cứ nào khác.
- Ý kiến của Kiểm sát viên:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký trong thời gian chuẩn bị xét xử. Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án thực hiện đúng, đầy đủ quy định Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Việc tuân thủ pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án tại phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ theo quy định của pháp luật.
Ý kiến về giải quyết vụ án, bà Nguyễn Thị Thu S với ông Nguyễn Hồng Đ không có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, năm 2019 giữa bà S với ông Đ có phát sinh mâu thuẫn. Căn cứ Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị không công nhận giữa bà S với ông Đ là vợ chồng.
Về con chung: Trong thời sống chung, Giữa bà Nguyễn Thị Thu S với ông Nguyễn Hồng Đ có 02 đứa con chung tên Nguyễn Thị Yến L, sinh ngày 03/11/1999 và Nguyễn Thành L1, sinh ngày 28/8/1995, hiện 02 cháu đã trường thành
Về tài sản và nợ chung: Không có, không đặt ra giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
[1] Thẩm quyền: Bà Nguyễn Thị Thu S khởi kiện ông Nguyễn Hồng Đ (Nguyễn Văn H), sinh năm 1971; địa chỉ cư trú: Tổ I, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang. Xét, quan hệ tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; nguyên đơn đã nộp tạm ứng án phí và Tòa án thụ lý giải quyết.
Biên bản xác minh ngày 08/7/2024 Công an phường L cung cấp thông tin: Ông Nguyễn Hồng Đ, sinh năm 1971 (tên gọi bên ngoài là H) thường trú tại tổ I, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang. Ông Đ là con ông Nguyễn Văn X, bà Thái Thị T, vợ là Nguyễn Thị Thu S.
Do đó; bà Nguyễn Thị Thu S khởi kiện xin ly hôn với ông Nguyễn Văn H, được xác định là ông Nguyễn Hồng Đ, tên thường gọi là ông H.
Về nội dung:
[2] Về quan hệ hôn nhân: Giữa bà Nguyễn Thị Thu S với ông Nguyễn Hồng Đ (tên gọi H) tự tìm hiểu, được cha mẹ hai bên đồng ý, hai người tổ chức lễ cưới vào năm 1994. Không có đi đăng ký kết hôn.
Thời gian đầu hai người sống chung có hạnh phúc. Qua thời gian chung sống thì có xảy ra mâu thuẫn như bất đồng quan điểm, thường xảy ra cự cãi nhau, mặt khác do khó khăn về kinh tế, thường xảy ra lủng củng mà đỉnh điểm là tháng 6/2019 thì xảy ra cự cãi nhau nên bà S bỏ đi làm ăn xa để gửi tiền về trả nợ. Hai người cũng không còn sống chung từ tháng 6/2019 cho đến nay.
Bà Nguyễn Thị Thu S với ông Nguyễn Văn H thống nhất ly hôn nhau.
Biên bản xác minh ngày 17/6/2024 của UBND phường L cung cấp về tình trạng hôn nhân của bà Nguyễn Thị Thu S và anh Nguyễn Văn H (Đ) thể hiện: Qua tra cứu hồ sơ lưu trữ tại UBND phường L, thị xã T, tỉnh An Giang, không tìm thấy thông tin đăng ký kết hôn giữa bà Nguyễn Thị Thu S, sinh năm 1977 và ông Nguyễn Văn H (Nguyễn Văn Đ1), sinh năm 1971.
Biên bản xác minh ngày 17/6/2024 của UBND phường L cung cấp về tình trạng hôn nhân của bà Nguyễn Thị Thu S và anh Nguyễn Văn H thể hiện: Qua tra cứu hồ sơ lưu trữ tại UBND phường L, thị xã T, tỉnh An Giang, từ thời gian tháng 12/2009 đến nay không tìm thấy thông tin đăng ký kết hôn giữa bà Nguyễn Thị Thu S, sinh năm 1977 và ông Nguyễn Văn H (Nguyễn Văn Đ1), sinh năm 1971.
Xét thấy yêu cầu của bà S xin ly hôn với ông Đ1 (H), ông Đ1 đồng ý ly hôn. Nhưng do 02 người không có đăng ký kết hôn nên không được xem là vợ chồng.
Như vậy cho thấy giữa bà Nguyễn Thị Thu S với ông Nguyễn Hồng Đ, hai người sống chung với nhau vào năm 1994, sau đó cả hai người đều đã đến tuổi đăng ký kết hôn. Nhưng giữa bà S với anh Đ không thực hiện nghĩa vụ đi đăng ký kết hôn, nên quan hệ giữa bà S với ông Đ không làm phát sinh nghĩa vụ vợ chồng theo quy định tại khoản 1, Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Do đó, HĐXX nên tuyên không công nhận giữa bà S với ông Đ là vợ chồng, phù hợp pháp luật.
[3] Về con chung: Giữa bà Nguyễn Thị Thu S với ông Nguyễn Hồng Đ có 02 đứa con chung tên Nguyễn Thị Yến L, sinh ngày 03/11/1999 và Nguyễn Thành L1, sinh ngày 28/8/1995, hiện 02 cháu đã trường thành. Nên không đặt ra xem xét.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Giữa bà Nguyễn Thị Thu S với ông Nguyễn Hồng Đ thống nhất không có. Không đặt ra giải quyết.
[5] Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thu S phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, bà S được chuyển từ tiền tạm ứng án phí sang theo biên lai thu số 0007874 ngày 21/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu;
Ông Nguyễn Hồng Đ (tên gọi H) không phải chịu tiền án phí hôn nhân.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 14, 15,51 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Xử:
Về hôn nhân:
Không công nhận giữa bà Nguyễn Thị Thu S và ông Nguyễn Hồng Đ (tên gọi H) là vợ chồng.
Về con chung:
Bà Nguyễn Thị Thu S với ông Nguyễn Hồng Đ (tên gọi H) có 02 đứa con chung tên Nguyễn Thị Yến L, sinh ngày 03/11/1999 và Nguyễn Thành L1, sinh ngày 28/8/1995, hiện 02 cháu đã trường thành.
Về tài sản chung, nợ chung:
Về tài sản chung, nợ chung: Giữa bà Nguyễn Thị Thu S với ông Nguyễn Hồng Đ thống nhất không có. Không đặt ra giải quyết.
[5] Về án phí:
Bà Nguyễn Thị Thu S phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, bà S được chuyển từ tiền tạm ứng án phí sang theo biên lai thu số 0007874 ngày 21/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu;
Ông Nguyễn Hồng Đ (tên gọi H) không phải chịu tiền án phí hôn nhân.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bà Nguyễn Thị Thu S vắng mặt vẫn có quyền kháng cáo kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niên yết hợp lệ để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Ông Nguyễn Hồng Đ (H) vẫn có quyền kháng cóa bản án trong hạn trên kể từ ngày xét sử để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Ngô Thế Minh |
Bản án số 58/2024/HNGĐ-ST ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn.
- Số bản án: 58/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn.
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: S yêu cầu ly hôn với Đ
