Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ UÔNG BÍ

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2024/HS-ST

Ngày: 23-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ, TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Vũ Huy Hùng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Tuấn Anh và ông Thái Quang Định.

Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thị Mây - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí tham gia phiên toà: Ông Phạm Lã Việt Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 7 năm 2024, tại phòng xử án Toà án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 48/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2024/QĐXXST- HS ngày 10 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Hoài T, tên gọi khác: không có; sinh ngày 05/10/1999 tại huyện T, tỉnh Hải Dương. Nơi cư trú: tổ A, khu E, phường Q, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Đức T1 và bà Phạm Thị N; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh”, có mặt tại phiên toà.

* Bị hại: Công ty TNHH MTV C1; địa chỉ: A Đ, phường A, quận B, thành phố Hồ Chí Minh; người đại diện theo pháp luật: ông Lưu Hy V – Giám đốc; người đại diện theo uỷ quyền: bà Nguyễn Thị T2 – Người đứng đầu chi nhánh B; đại diện theo uỷ quyền lại: ông Nguyễn Hoài N1 – Nhân viên, vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

* Người làm chứng: chị Nguyễn Thị Phương C, chị Nguyễn Thị H, đều vắng mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng đầu năm 2022, Phạm Hoài T làm việc tại Công ty TNHH MTV C1 – Chi nhánh B, địa chỉ tại đường L, phường V, thành

phố B, tỉnh Bắc Ninh. Trước khi ký hợp đồng, T được thử việc trong thời gian 03 tháng và được Công ty cho đi tập huấn tại phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh trong thời gian 01 ngày. Sau thời gian thử việc, T ký hợp đồng lao động và bản cam kết đầy đủ với Công ty, nộp tiền ký quỹ với Công ty. Theo hợp đồng đã ký, định kỳ Công ty sẽ chuyển tiền vào tài khoản trả lương cho T vào ngày 15 hàng tháng (vào ngày 15 của tháng này, sẽ trả đủ tiền lương của tháng trước). Tính đến trước tháng 08/2023, Công ty không nợ lương của T và cũng đã hoàn trả đủ cho T số tiền đã ký quỹ. Đến ngày 08/8/2023, T tiếp tục ký lại hợp đồng lao động có thời hạn với Công ty TNHH MTV C1 – Chi nhánh B (thời hạn từ ngày 08/8/2023 đến ngày 07/8/2024). T được phân công làm nhân viên giao hàng (với mã nhân viên là “00935581”) tại bưu cục số “203D02”, địa chỉ khu F, phường Q, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh.

T được giao nhiệm vụ chuyên trách giao hàng các khu 2, 3, 4 và 5 phường Q, thành phố U. Theo quy định chung của Công ty, cũng như hợp đồng và bản cam kết T đã ký, quy trình công việc của T hàng ngày như sau: T nhận hàng tại Bưu cục và quét (scan) thông tin đơn hàng thực tế vào ứng dụng (A2) có tên là “J&T Sprinter" của Công ty đã được cài sẵn trên điện thoại di động của T. Mọi hoạt động giao, nhận hàng, thu hộ tiền từ khách hàng, T đều phải cập nhật trên ứng dụng, Công ty sẽ tiến hành kiểm soát dịch vụ trên ứng dụng. Sau đó, T mang đơn hàng đi giao cho khách hàng, có trách nhiệm thu tiền hàng (COD), cước vận chuyển (phí ship) từ khách hàng. Đến sáng ngày hôm sau phải nộp số tiền đã thu được cho quản lý bưu cục (tức là nộp tiền về Công ty) muộn nhất trước 10 giờ 30 phút, kèm số gói hàng chưa giao được cho khách hàng ngày trước đó. Bàn giao xong mới tiếp tục nhập lại đơn hàng tồn và có thể nhận thêm những đơn hàng mới để tiếp tục mang đi giao cho khách hàng.

Quá trình làm việc T nảy sinh ý định trong quá trình giao hàng cho khách, đối với một số đơn hàng khi giao thành công, T sẽ nhận tiền, không nộp về cho Công ty mà giữ lại để chi tiêu cá nhân.

Từ ngày 21/9/2023 đến ngày 28/9/2023, T nhận nhiều đơn hàng của bưu cục mang đi giao cho khách, rồi nhận tiền COD và cước của khách mang về nộp lại cho Công ty theo quy định. Nhưng trong tổng số các đơn hàng này, T đã giữ lại 37 đơn của 30 khách hàng với tổng số tiền COD và cước là 36.281.330 đồng (ba mươi sáu triệu hai trăm tám mươi mốt nghìn ba trăm ba mươi đồng) giao cho khách, nhận tiền thành công, nhưng sau đó không nộp tiền về Công ty mà chi tiêu cá nhân hết. Trong 37 đơn hàng này có 29 đơn hàng, mỗi đơn hàng có giá trị dưới 2.000.000 đồng; 06 đơn hàng có giá trị trên 2.000.000 đồng; 02 đơn hàng giao cho cùng 01 khách hàng có giá trị trên 2.000.000 đồng trong 01 ngày. Cụ thể:

* 29 đơn hàng có giá trị dưới 2.000.000 đồng:

1. Ngày 21/9/2023, T nhận 01 đơn hàng giao cho anh Nguyễn Hoàng P, sinh năm 1987, trú tại tổ F, khu B, phường Q, thành phố U, mặt hàng là 01 chiếc ghế xếp, với mã đơn hàng là “842505317247”. Anh P sử dụng tài khoản ngân

hàng T13 của mình (số tài khoản “19035083666012”) chuyển khoản đến tài khoản của T số “1027389328”, thuộc ngân hàng V1, số tiền là 1.100.000 đồng. (một triệu một trăm nghìn đồng).

2. Ngày 22/9/2023, T nhận 01 đơn hàng giao cho chị Nguyễn Kiều G, sinh năm 1995, trú tại tổ B, khu F, phường Q, thành phố U, mặt hàng 01 đôi giày, mã đơn hàng là “842506102374”. Chị G sử dụng tài khoản ngân hàng Q2 (số tài khoản là “984151805”) chuyển khoản đến tài khoản V1 của T, số tiền là 1.350.000 đồng (một triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng).

3. Ngày 23/9/2023, T nhận 01 đơn hàng giao cho chị Nguyễn Thị Kim N2, sinh năm 1997, trú tại tổ C, khu B, phường B, thành phố U, mặt hàng keo nối mi, mã đơn hàng là “855724097770”. T thu tiền mặt với số tiền 159.900 đồng (một trăm năm mươi chín nghìn chín trăm đồng).

4. Ngày 23/9/2023, T nhận 01 đơn hàng giao cho chị Phạm Thị Minh T3, sinh năm 1987, chỗ ở tại ngõ G, đường L, tổ A, khu E, phường Q, thành phố U, mặt hàng 01 hộp yến sào, mã đơn hàng “842505615516”. T thu tiền mặt số tiền 1.900.000 đồng (một triệu chín trăm nghìn đồng).

5. Ngày 23/9/2023, T nhận 01 đơn hàng giao cho chị Trần Thị O, sinh năm 1982, trú tại tổ A, khu E, phường Q, thành phố U, mặt hàng quần áo, mã đơn hàng “842506066264”. Chị O sử dụng tài khoản ngân hàng V1 của mình (số tài khoản là “0141000656053”) chuyển khoản đến tài khoản V1 của T số tiền là 1.557.000 đồng (một triệu năm trăm năm mươi bảy nghìn đồng).

6. Ngày 24/9/2023, T nhận 01 đơn hàng giao cho anh Lê Văn P1, sinh năm 2004, trú tại tổ B, khu G, phường Q, thành phố U, mặt hàng là đồ dùng cá nhân, mã đơn hàng “802407855774”. T thu tiền mặt số tiền 195.000 đồng (một trăm chín mươi lăm nghìn đồng).

7. Ngày 25/9/2023, T nhận 01 đơn hàng giao cho bà Nguyễn Thị T4, sinh năm 1962, trú tại tổ D, khu I, phường V, thành phố U, mặt hàng 02 túi táo và 02 túi kỳ tử, mã đơn hàng “802408270555”. T thu tiền mặt số tiền 160.000 đồng (một trăm sáu mươi nghìn đồng).

8. Ngày 26/9/2023, T nhận 01 đơn hàng giao cho chị Trần Thị Kim O1, sinh năm 1999, trú tại tổ D, khu E, phường Q, thành phố U, mặt hàng quần áo, mã đơn hàng “842506445366”. Chị O1 sử dụng tài khoản ngân hàng M (số tài khoản là “0001718241816”) chuyển khoản đến tài khoản V1 của T số tiền là 1.805.000 đồng (một triệu tám trăm linh năm nghìn đồng).

9. Ngày 26/9/2023, T nhận 01 đơn hàng giao cho chị Hỷ Thị H1, sinh năm 1994, trú tại tổ B, khu H, phường Q, thành phố U, mặt hàng là 01 hộp sữa bột hiệu Enspire, mã đơn hàng “802408543316”. T thu tiền mặt số tiền 1.410.000 đồng (một triệu bốn trăm mười nghìn đồng).

10. Ngày 27/9/2023, T nhận 01 đơn hàng giao cho chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1983, trú tại tổ A, khu D, phường Q, thành phố U, mặt hàng là 01 chiếc

váy, mã đơn hàng “855733303827”. T thu tiền mặt số tiền 96.800 đồng (chín mươi sáu nghìn tám trăm đồng).

11. Ngày 27/9/2023, T nhận 01 đơn hàng giao cho anh Đỗ Thái H2, sinh năm 1994, trú tại tổ B, khu B, phường P, thành phố U, mặt hàng là xà bông nghệ – mật ong, mã đơn hàng “855736032128”. T thu tiền mặt số tiền 48.800đ (bốn mươi tám nghìn tám trăm đồng).

12. Ngày 27/9/2023, T nhận 01 đơn hàng giao cho cháu Vũ La Tuyết T5, sinh năm 2010, trú tại tổ H, khu B, phường Q, thành phố U, mặt hàng là 01 chiếc áo thun, mã đơn hàng là “855739610328”. T thu tiền mặt số tiền 94.000 đồng (chín mươi tư nghìn đồng).

13. Ngày 27/9/2023, T nhận 01 đơn hàng giao cho chị Bùi Thị L1, sinh năm 1994, trú tại tổ F, khu B, phường Q, thành phố U, mặt hàng là 01 chiếc áo Polo nam, mã đơn hàng “855734540937”. T thu tiền mặt số tiền 142.000 đồng (một trăm bốn mươi hai nghìn đồng).

14. Ngày 27/9/2023, T nhận 01 đơn hàng giao cho chị Phạm Thị H3, sinh năm 1998, trú tại tổ E, khu B, phường P, thành phố U, mặt hàng là 01 chiếc áo Polo nam, mã đơn hàng “855736598017”. T thu tiền mặt số tiền 80.050 đồng (tám mươi nghìn không trăm năm mươi đồng).

15. Ngày 27/9/2023, T nhận 01 đơn hàng giao cho chị Nguyễn Thị H4, sinh năm 1990, trú tại tổ G, khu B, phường Q, thành phố U, mặt hàng là thùng dây buộc tóc cao su 5000 sợi, mã đơn hàng “855724214094”. T thu tiền mặt số tiền 105.500 đồng (một trăm linh năm nghìn năm trăm đồng).

16. Ngày 27/9/2023, T nhận 01 đơn hàng giao cho anh Nguyễn Ngọc T6, sinh năm 1999, trú tại tổ A, khu D, phường Q, thành phố U, mặt hàng là 01 tấm áp phích hiệu MIXUE, mã đơn hàng “842506451403”. T thu tiền mặt số tiền 37.000 đồng (ba mươi bảy nghìn đồng).

17. Ngày 27/9/2023, T nhận 01 đơn hàng giao cho chị Trịnh Hoài A, sinh năm 2002, trú tại khu Đ, phường T, thành phố U, mặt hàng là 01 thùng khẩu trang, mã đơn hàng “855730016118”. T thu tiền mặt số tiền 131.000 đồng (một trăm ba mươi mốt nghìn đồng).

18. Ngày 27/9/2023, T nhận 01 đơn hàng giao cho chị Bùi Thanh K, sinh năm 2001, trú tại tổ C, khu D, phường T, thành phố U, mặt hàng là 01 chiếc áo sơ mi cộc tay, mã đơn hàng “855732110621”. T thu tiền mặt số tiền 98.880 đồng (chín mươi tám nghìn tám trăm tám mươi đồng).

19. Ngày 27/9/2023, T nhận 01 đơn hàng giao cho chị Lê Thị T7, sinh năm 1999, trú tại tổ I, khu C, phường Q, thành phố U, mặt hàng là 01 hộp Sữa Meiji lon nhập khẩu, mã đơn hàng “855737382733”. T thu tiền mặt số tiền 475.600 đồng (bốn trăm bảy mươi lăm nghìn sáu trăm đồng).

20. Ngày 27/9/2023, T nhận 01 đơn hàng giao cho chị Nguyễn Thị D, sinh năm 1987, trú tại tổ G, khu B, phường Q, thành phố U, mặt hàng là 01 bộ ga gối,

mã đơn hàng “855737634315”. T thu tiền mặt số tiền 159.300 đồng (một trăm năm mươi chín nghìn ba trăm đồng).

21-25. Ngày 27/9/2023, T nhận 05 đơn hàng giao cho anh Lương Minh T8, sinh năm 1989, trú tại A T, tổ A, khu E, phường Q, thành phố U, mặt hàng gồm: 01 đôi giày thể thao KAPPA, mã đơn hàng “855728327190”, số tiền: 469.000 đồng; 01 đôi dép quai ngang W, mã đơn hàng “855728977586”, số tiền 229.000 đồng; 01 đôi giày Sneakers Women, mã đơn hàng “855728987991”, số tiền 191.500 đồng; 01 đôi giày Sneakers Women, mã đơn hàng “855720347991”, số tiền 174.000 đồng và 01 đôi giày Sneakers Women, mã đơn hàng “855725337487” số tiền 268.200 đồng. T thu tiền mặt của 05 đơn hàng với tổng số tiền là 1.331.700 đồng (một triệu ba trăm ba mươi mốt nghìn bảy trăm đồng).

26. Ngày 27/9/2023, T nhận 01 đơn hàng giao cho anh Đỗ Tiến D1, sinh năm 1996, trú tại tổ G, khu B, phường Q, thành phố U, mặt hàng là 02 chiếc khăn và 02 chiếc chậu gấp gọn giá 0 đồng, mã đơn hàng “855736604319”.

27. Ngày 27/9/2023, T nhận 01 đơn hàng giao cho chị Đỗ Thị T9, sinh năm 1972, trú tại tổ B, khu H, phường Q, thành phố U, mặt hàng giá 0 đồng, mã đơn hàng “396424413".

28. Ngày 27/9/2023, T nhận 01 đơn hàng giao cho chị Hoàng Thị K1, sinh năm 1989, chỗ ở tổ D, khu B, phường Q, thành phố U, mặt hàng quần áo, giá 0 đồng, mã đơn hàng là “841301802953”. T thu tiền cước của chị K1 số tiền là 30.000 đồng (ba mươi nghìn đồng).

29. Ngày 28/9/2023, T nhận 01 đơn hàng giao cho chị Dương Thị T10, sinh năm 1986, trú tại tổ A, khu D, phường Q, thành phố U, mặt hàng là 01 chiếc váy dài tay, mã đơn hàng “855736971331”. Đơn hàng có giá trị 481.000 đồng, tuy nhiên T chỉ bảo chị T10 chuyển khoản tròn số tiền. Chị T10 sử dụng tài khoản ngân hàng V2 (số tài khoản “106004149954”) chuyển khoản đến số tài khoản V1 của T, số tiền 480.000 đồng (bốn trăm tám mươi nghìn đồng).

* 06 đơn hàng có giá trị trên 2.000.000 đồng:

1. Ngày 21/9/2023, T nhận 01 đơn hàng giao cho chị Trịnh Hải Y, sinh năm 1984, trú tại tổ H, khu B, phường Q, thành phố U, mặt hàng là 10 hộp kem đánh răng và 10 lọ sữa rửa mặt mã đơn hàng “842505454707”. T thu tiền mặt số tiền 2.350.000 đồng (hai triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng).

2. Ngày 22/9/2023, T nhận 01 đơn hàng giao cho chị Hỷ Thị H1, sinh năm 1994, trú tại tổ B, khu H, phường Q, thành phố U, mặt hàng là 01 thùng sữa, mã đơn hàng “80240764434”. Chị H1 sử dụng tài khoản ngân hàng V2 (số tài khoản là “106006354774”) chuyển khoản đến số tài khoản V1 của T, tổng số tiền là 2.010.000 đồng (hai triệu không trăm mười nghìn đồng).

3. Ngày 22/9/2023, T nhận 01 đơn hàng giao cho anh Phạm Văn G1, sinh năm 1990, trú tại khu D, phường Y, thị xã Q, mặt hàng là 200 chiếc lồng đèn bằng vải, mã đơn hàng “842505920954”, tiền COD là 5.000.000 đồng, tiền cước

là 226.000 đồng. Anh G1 sử dụng tài khoản ngân hàng V3 (số tài khoản là “225105359”) chuyển khoản đến số tài khoản V1 của T số tiền là 5.226.000 đồng (năm triệu hai trăm hai mươi sáu nghìn đồng).

4. Ngày 23/9/2023, T nhận 01 đơn hàng giao cho anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1987, trú tại tổ A, khu F, phường Q, thành phố U mặt hàng là 01 chiếc ghế công thái học, mã đơn hàng “855728890280”. Anh Q sử dụng tài khoản ngân hàng V2 (số tài khoản là “106869757023”) chuyển khoản đến số tài khoản V1 của T số tiền là 4.582.000 đồng (bốn triệu năm trăm tám mươi hai nghìn đồng).

5. Ngày 26/9/2023, T nhận 01 đơn hàng giao cho bà Lê Thị Hải Y1, sinh năm 1967, trú tại tổ F, khu A, phường V, thành phố U, mặt hàng là 01 hộp yến sào, mã đơn hàng “842506325814”. T thu tiền mặt số tiền 2.550.000 đồng (hai triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng).

6. Ngày 27/9/2023, T nhận 01 đơn hàng giao cho anh Nguyễn Thái T11, sinh năm 1982, trú tại tổ B, khu G, phường Q, thành phố U, mặt hàng kính cường lực dán điện thoại, mã đơn hàng “842506476444”. T thu tiền mặt số tiền 2.080.000 đồng (hai triệu không trăm tám mươi nghìn đồng).

* 02 đơn hàng giao cho cùng 01 khách hàng có giá trị trên 2.000.000 đồng trong 01 ngày: Ngày 22/9/2023, T nhận 02 đơn hàng giao cho anh Trần Văn Q1, sinh năm 1992, trú tại thôn D, xã L, thị xã Q, mặt hàng là 01 bộ bàn làm việc G2, mã đơn hàng “855728549266”, số tiền 599.000 đồng và 01 bộ máy vi tính để bàn loại màn hình 20inch, mã đơn hàng “855720674565”, số tiền 3.935.800 đồng, tổng giá trị 02 đơn hàng là 4.534.800 đồng (bốn triệu năm trăm ba mươi tư nghìn tám trăm đồng). Anh Q1 sử dụng tài khoản ngân hàng S (số tài khoản “1012263795”) chuyển khoản số tiền trên đến tài khoản của chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1995, trú tại tổ A, khu E, phường Q – Là văn thư của bưu cục (được T nhờ bàn giao đơn hàng cho anh Q1), số tài khoản là 0369624775, thuộc ngân hàng M. Cùng ngày chị H chuyển đủ số tiền trên đến tài khoản V1 của T.

Ngày 28/9/2023, T mang số đơn hàng tồn của ngày 27/9/2023 (ngoài số đơn hàng đã giao cho khách thành công nêu trên) trả lại kho của bưu cục. Nhận thêm 01 đơn có mã vận đơn là “855736971331” (đơn hàng của chị Dương Thị T10, sinh năm 1986, trú tại tổ A, khu D, phường Q, thành phố U), rồi tự ý bỏ việc tại bưu cục. Đến trưa ngày 28/9/2023, chị Nguyễn Thị H phát hiện có nhiều đơn hàng Phạm Hoài T không xác nhận đã giao hàng thành công trên App của nhân viên giao hàng và không nộp tiền COD, cước của ngày trước đó về cho bưu cục. Chị H đã báo lại nội dung trên cho T12 bưu cục “203D02” là chị Nguyễn Thị Phương C, sinh năm 1994, trú tại tổ E, khu Đ, phường M, thị xã Đ biết. Ngay sau đó, chị C liên lạc với T hỏi lý do tại sao không mang tiền COD, cước về nộp cho bưu cục, thì T trả lời là toàn bộ số tiền T đã chi tiêu cá nhân hết, nay không có khả năng giao nộp lại. Chị C và chị H đã liên lạc với nhiều khách hàng, thì được số khách hàng này xác nhận đã nhận hàng và giao tiền cho nhân viên giao hàng. Cùng ngày, chị C báo cáo sự việc lên Công ty. Cùng ngày 28/9/2023, Công ty đã ra Quyết định chấm dứt hợp đồng lao động đối với T.

Nhiều lần chị C liên lạc, yêu cầu T khắc phục hoàn trả số tiền đã chiếm đoạt trên lại cho Công ty, nhưng T không nộp mà chặn liên lạc của chị C.

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà, Phạm Hoài T khai nhận toàn bộ nội dung phạm tội như nội dung vụ án nêu trên.

Bị hại vắng mặt tại phiên toà nhưng lời khai có trong hồ sơ thể đúng như lời khai của bị cáo và nội dung vụ án.

Tại Cáo trạng số: 820/CT- VKSUB ngày 12/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí truy tố bị cáo về tội “Tham ô tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 353 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí tại phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo theo Cáo trạng. Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Hoài T phạm tội “Tham ô tài sản”; áp dụng: điểm c khoản 2 Điều 353; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo từ 42 tháng đến 48 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định, nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng. Về trách nhiệm dân sự: Phạm Hoài T đã bồi thường số tiền 36.281.330 đồng cho Công ty TNHH MTV C1 – Chi nhánh B. Phía Công ty không yêu cầu bồi thường gì thêm, nên không đề cập.

Bị cáo không tranh luận; lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập và hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo và bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ cũng như hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập và hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, của những người làm chứng, và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Từ ngày 21/9/2023 đến ngày 28/9/2023, tại bưu cục số “203D02”, địa chỉ khu F, phường Q, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, thuộc Công ty TNHH MTV C1 – Chi nhánh B, Phạm Hoài T là người có đủ năng lực trách

nhiệm hình sự đã lợi dụng nhiệm vụ được phân công đi giao 37 đơn hàng và thu tiền hàng của khách hàng, T đã chiếm đoạt tổng số tiền thu của khách là 36.281.330 đồng, trong đó có 06 đơn hàng, mỗi đơn hàng có giá trị trên 2.000.000 đồng, 02 đơn hàng giao cho cùng 01 khách hàng có giá trị trên 2.000.000 đồng trong một ngày. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tham ô tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 353 Bộ luật Hình sự. Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí truy tố và kết luận về hành vi phạm tội đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tuy nhiên mức hình phạt Viện kiểm sát đề nghị có phần nghiêm khắc đối với bị cáo, Hội đồng xét xử sẽ xem xét cân nhắc để quyết định mức hình phạt phù hợp, đúng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo.

[3] Về hình phạt:

[3.1] Hình phạt chính:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến hoạt động đúng đắn của cơ quan, doanh nghiệp được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến uy tín và hoạt động kinh doanh của Công ty, nên cần phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

* Tình tiết tăng nặng: không có.

* Tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, đã bồi thường thiệt hại cho bị hại để khắc phục hậu quả, bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên bị cáo được hưởng những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Từ những đánh giá, phân tích nêu trên, căn cứ vào nhân thân, hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo cũng như những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy nên cho bị cáo được hưởng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng, bắt bị cáo phải cách ly khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm và cho bị cáo thấy được tính khoan hồng, nhân đạo của pháp luật.

[3.2] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 353 Bộ luật hình sự thì người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm, có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng. Xét thấy bị cáo là người không có chức vụ, nghề nghiệp ổn định, điều kiện kinh tế khó khăn, nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[4] Về huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn: Cần huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 54/2024/HSST-LCCT và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh số: 68/2024/HSST-QĐTHXC cùng ngày 14/6/2024 của Toà án nhân dân thành phố Uông Bí cần được hủy bỏ.

[5]. Về trách nhiệm dân sự: đã được giải quyết trong giai đoạn điều tra,

bị hại không có yêu cầu gì thêm nên không đề cập.

[6] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Hoài T phạm tội “Tham ô tài sản”.

    Căn cứ vào: điểm c khoản 2 Điều 353; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự.

    Xử phạt: Phạm Hoài T 36 (ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

  2. Về hủy bỏ biện pháp ngăn chặn: Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự. Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 54/2024/HSST-LCCT và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh số: 68/2024/HSST-QĐTHXC cùng ngày 14/6/2024 của Toà án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.
  3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

    Buộc bị cáo Phạm Hoài T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm, nộp ngân sách Nhà nước.

  4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào khoản 1 Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND thành phố Uông Bí;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - CQTHAHS Công an TP Uông Bí;
  • - CQCSĐT Công an TP Uông Bí;
  • - CCTHADS thành phố Uông Bí;
  • - Cục QLXNC-BCA;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh;
  • - UBND phường Quang Trung;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Huy Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 58/2024/HS-ST ngày 23/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ, TỈNH QUẢNG NINH về hình sự - tham ô tài sản

  • Số bản án: 58/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tham ô tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Hoài T - Tham ô tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger