Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN DẦU TIẾNG

TỈNH BÌNH DƯƠNG

—————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 58/2024/DS-ST

Ngày: 23-5-2024

V/v tranh chấp hợp đồng đặt cọc.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG

TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Long Tỵ

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Ông Trương Hữu Bình;
  • 2. Bà Nguyễn Thị Kim Phi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 443/2023/TLST-DS ngày 06 tháng 10 năm 2023 về việc “tranh chấp hợp đồng đặt cọc”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2024/QĐXXST-DS ngày 17 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 35/2024/QĐST-DS ngày 06 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Phạm Thị H, sinh năm 1964; địa chỉ: Số C, đường L, khu phố E, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương.

    Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn (bà Phạm Thị H): Ông Nguyễn Công B, sinh năm 1999; hộ khẩu thường trú: Ấp A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Phước (hợp đồng ủy quyền ngày 29/9/2023).

  2. Bị đơn: Bà Trần Thị L, sinh năm 1987; hộ khẩu thường trú: Ấp B, xã A, huyện D, tỉnh Bình Dương.

Đại diện hợp pháp của nguyên đơn (ông B) có mặt tại phiên tòa; bị đơn (bà L) vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 29 tháng 9 năm 2023, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của nguyên đơn (ông B) trình bày: Ngày 26/10/2021, nguyên đơn có ký với bị đơn “Hợp đồng đặt cọc (về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” đối với phần đất có diện tích khoảng 500m² (chiều ngang 13,5m, chiều dài hết đất) thuộc thửa đất số 634, tờ bản đồ số 44, tọa lạc tại khu phố F, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương. Phần đất này đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 26/11/2002 cho ông Đỗ Văn D với số tiền chuyển nhượng là 615.000.000 đồng (sáu trăm mười lăm triệu đồng). Sau khi ký hợp đồng nguyên đơn đã đặt cọc số tiền 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng) cho bị đơn, tiếp đến ngày 26/11/2021 nguyên đơn đặt cọc tiếp cho bị đơn số tiền 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng). Tổng cộng nguyên đơn đã đặt cọc cho bị đơn số tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng). Bị đơn hẹn đến ngày 26/4/2022, sẽ giao giấy tờ cho nguyên đơn để chứng thực hợp đồng nếu không giao thì bị đơn sẽ bồi thường gấp 02 (hai) số tiền nhận cọc cho nguyên đơn nhưng từ đó đến này bị đơn vẫn không thực hiện. Vì vậy, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy hợp đồng đặt cọc (Về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất) ngày 26/10/2021 được ký giữa bà nguyên đơn và bị đơn. Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lại số tiền nhận cọc 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) cho nguyên đơn. Ngoài ra, nguyên đơn, đại diện hợp pháp của nguyên đơn không có ý kiến và không có yêu cầu gì thêm.

* Bị đơn (bà Trần Thị L):

Quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự để bị đơn tham gia giải quyết vụ án nhưng bị đơn cố tình vắng mặt không có lý do. Tòa án không thu thập được ý kiến của bị đơn. Quá trình Tòa án xác minh, xác định bị đơn (bà Trần Thị L, sinh năm 1987; có đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp B, xã A, huyện D, tỉnh Bình Dương, bà L bỏ địa phương đi đâu sinh sống chính quyền địa phương không biết nhưng bà L thỉnh thoảng vẫn về địa phương thăm gia đình).

* Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên:

  • - Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán được phân công thụ lý và giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
  • - Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, đại diện hợp pháp của nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với bị đơn trong quá trình tiến hành tố tụng Tòa án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng để bị đơn thực hiện

các quyền và nghĩa vụ của mình khi tham gia giải quyết vụ án nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự đề nghị xét xử vắng mặt bị đơn.

  • - Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Quan hệ pháp luật của vụ án là “tranh chấp hợp đồng đặt cọc”. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ và kết quả tranh luận tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn tuyên hợp đồng đặt cọc ngày 26/10/2021 ký kết giữa nguyên đơn và bị đơn là vô hiệu. Buộc bị đơn trả cho nguyên đơn số tiền đã nhận cọc là 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Từ những tài liệu chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết: Đây là tranh chấp hợp đồng dân sự (vay tài sản) theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố Tụng dân sự. Bị đơn có hộ khẩu thường trú tại ấp B, xã A, huyện D, tỉnh Bình Dương nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương theo quy định tại khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung tranh chấp: Ngày 26/10/2021 giữa nguyên đơn và bị đơn ký “Hợp đồng đặt cọc (về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” đối với phần đất có diện tích khoảng 500m² (chiều ngang 13,5m, chiều dài hết đất) thuộc thửa đất số 634, tờ bản đồ số 44, tọa lạc tại khu phố F, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương. Phần đất này đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 26/11/2002 cho ông Đỗ Văn D với số tiền chuyển nhượng là 615.000.000 đồng (sáu trăm mười lăm triệu đồng). Nguyên đơn đã đặt cọc số tiền 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng) cho bị đơn, tiếp đến ngày 26/11/2021 nguyên đơn đặt cọc tiếp cho bị đơn số tiền 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng). Tổng cộng nguyên đơn đã đặt cọc cho bị đơn số tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng). Bị đơn hẹn đến ngày 26/4/2022, sẽ giao giấy tờ cho nguyên đơn để chứng thực hợp đồng nếu không giao thì bị đơn sẽ bồi thường gấp 02 (hai) số tiền nhận cọc cho nguyên đơn nhưng từ đó đến này bị đơn vẫn không thực hiện nên dẫn đến tranh chấp.

Vì vậy, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy hợp đồng đặt cọc (Về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất) ngày 26/10/2021 được ký giữa bà nguyên đơn và bị đơn. Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lại số tiền nhận cọc 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) cho nguyên đơn.

Nguyên đơn cung cấp chứng cứ chứng minh là “Hợp đồng đặt cọc (về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” được ký kết giữa nguyên đơn và bị đơn ngày 26/10/2021. Quá trình Tòa án giải quyết, bị đơn cố tình né tránh, không hợp tác, Tòa án cũng đã thực hiện việc niêm yết các thủ

tục tố tụng theo đúng quy định của pháp luật để bị đơn thực hiện quyền và nghĩa vụ của bị đơn nhưng bị đơn không hợp tác, từ bỏ quyền và nghĩa vụ của minh. Vì vậy, đây là tình tiết không cần phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, có cơ sở khẳng định chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp là có giá trị chứng minh.

[3] Hội đồng xét xử xét thấy: Chứng cứ nguyên đơn cung cấp là “Hợp đồng đặt cọc (về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” được ký kết giữa nguyên đơn và bị đơn ngày 26/10/2021 có chữ ký tên, họ và tên của bị đơn. Sau nhiều lần nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán lại số tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) đã nhận cọc của nguyên đơn cho nguyên đơn nhưng bị đơn không thanh toán. Vì vậy, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy hợp đồng đặt cọc (Về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất) ngày 26/10/2021 được ký giữa bà nguyên đơn và bị đơn. Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lại số tiền nhận cọc 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) cho nguyên đơn là phù hợp tại các Điều 5, 26, 166, 168, 203 của Luật đất đai năm 2013 và các Điều 116, 117, 122, 123, 131, 328 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn là có cơ sở chấp nhận toàn bộ.

Theo biên bản xác minh ngày 18/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng thể hiện bị đơn (bà Trần Thị L, sinh năm 1987; có đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp B, xã A, huyện D, tỉnh Bình Dương, BÀ L bỏ địa phương đi đâu sinh sống chính quyền địa phương không biết nhưng bà L thỉnh thoảng vẫn về địa phương thăm gia đình. Việc bị đơn không chấp hành giấy triệu tập của Tòa án là cố tình trốn tránh nghĩa vụ. Tòa án đã tiến hành tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng và xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[5] Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu án phí đối với số tiền phải trả cho nguyên đơn.

[6] Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 227, 228, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự,
  • - Căn cứ các Điều 116, 117, 122, 123, 131, 328 của Bộ luật dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ các Điều 5, 26, 166, 168, 203 của Luật đất đai năm 2013;
  • - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • * Tuyên xử:
  • 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện “tranh chấp hợp đồng đặt cọc” của nguyên đơn bà Phạm Thị H đối với bị đơn bà Trần Thị L.
  • 1.1. Tuyên bố hợp đồng đặt cọc (Về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất) ngày 26/10/2021 được ký giữa bà Phạm Thị H và bà Trần Thị L là vô hiệu.
  • 1.2. Bà Trần Thị L có trách nhiệm hoàn trả lại cho bà Phạm Thị H số tiền nhận cọc là 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 23/5/2024) cho đến khi thi hành án xong, kể từ ngày bà Phạm Thị H có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà Trần Thị L không thanh toán số tiền trên, thì hàng tháng bà Trần Thị L còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.

  • 2. Án phí dân sự sơ thẩm:- Buộc bà Trần Thị L phải nộp số tiền 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng).
  • - Hoàn trả cho bà Phạm Thị H số tiền 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm bà H đã nộp theo biên lai thu số: AA/2021/0009467 ngày 03/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.

Trường hợp Bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án (ngày 23/5/2024).

Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND huyện Dầu Tiếng;
  • - CCTHA DS huyện Dầu Tiếng;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ, văn thư.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Long Tỵ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 58/2024/DS-ST ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

  • Số bản án: 58/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng đặt cọc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khỡi kiện của nguyên đơn bà H đối với bà L
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger