TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số:58/2023/DS-PT
Ngày 21 tháng 8 năm 2023
“V/v: Tranh chấp hợp đồng
mua bán tài sản"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Điêu Thị Bích Lượt.
Các Thẩm phán: Ông Hoàng Tiến Dũng
Ông Phạm Văn Toàn
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hồng Quân - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ: Ông Hoàng Thanh Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 108/2022/TLPT-DS ngày 12/12/2022 về việc: “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 18/2022/DS-ST ngày 28/10/2022 của Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2023/QĐXX-PT ngày 10/02/2023 và quyết định hoãn phiên toà giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Hoàng Mạnh H, sinh năm: 1980
TT: Đường T, phường L, quận K, thành phố Hải Phòng
Người bảo vệ quyền và lợi ích của của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn X và bà Trần Thị Diệu H1 - Luật sư - Đoàn luật sư thành phố H
Địa chỉ: P72A lầu 4, tầng E, chung cư H N, phường B, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH ) thương mại P1
Địa chỉ: Số H, khu B, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ
Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Ngọc T - Giám đốc
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1/Bà Nguyễn Thị Thanh H2, sinh năm 1964
TT: Khu Đ, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ
2/ Bà Lê Thị O, sinh năm 1984
TT: Đường T, phường L, quận K, thành phố Hải Phòng
Bà O ủy quyền cho ông: Hoàng Mạnh H, sinh năm: 1980
TT: Đường T, phường L, quận K, thành phố Hải Phòng
3/ Phòng cảnh sát giao thông đường bộ - đường công an thành phố H
Địa chỉ:14 P, Hoàng Văn T1, Hồ N, thành phố Hải Phòng.
(Ông H, ông T, bà H2, ông X, bà H1 có mặt, những người tham gia tố tụng khác vắng mặt)
Người kháng cáo: Ông Hoàng Mạnh H bị đơn.
Viện kiểm sát nhận dân tỉnh Phú Thọ kháng nghị
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Hoàng Mạnh H và luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông H trình bày:
Do nhu cầu vận tải, ông cần 01 chiếc xe mui bạt để kinh doanh, vận tải hoàng hóa. Thông qua mối quan hệ xã hội, ông biết bà Nguyễn Thị Thanh H2 muốn bán chiếc xe ô tô tải màu trắng nhãn hiệu Hyundai BKS 19C-046.14, đăng ký xe mang tên Công ty TNHH T (sau đây gọi tắt là Công ty P) nên ông gọi điện hỏi mua. Sau khi trao đổi qua điện thoại, ngày 20/4/2020 bà H2 đưa ông đến xem xe, ông chỉ kiểm tra bên ngoài, nổ máy xe, kiểm tra lốp và các thiết bị trên xe chứ không kiểm tra số khung, số máy.
Kiểm tra xong, ông và bà H2 thỏa thuận, thống nhất mua bán chiếc xe với giá 525.000.000đ, hẹn trả trước 520 triệu đồng còn 5 triệu đồng sẽ thanh toán nốt khi bà H2 rút hồ sơ gửi cho ông. Theo yêu cầu của bà H2, ông đã nhờ em gái ông là Hoàng Thị D đã chuyển 520 triệu đồng vào tài khoản số 10100235399 tại Ngân hàng C Đền H9, chủ tài khoản Nguyễn Quốc H3 (con trai bà H2). Cùng ngày, bà H2 soạn Giấy biên nhận mua bán xe đưa cho ông Nguyễn Ngọc T là giám đốc công ty ký. Do ông chưa có căn cước công dân nên ông để vợ là bà Lê Thị O đứng tên bên mua, dự định đến khi làm hợp đồng mua bán chính thức thì ông sẽ đứng tên trên hợp đồng. Sau đó bà H2 bàn giao xe cùng giấy tờ xe cho ông đưa xe về Hải Phòng. Ngày 16/6/2020, Công ty tự lập Hợp đồng mua bán xe ô tô, tự ký cả bên mua, bên bán và xuất hóa đơn giá trị gia tăng với trị giá mua bán là 50.000.000₫ rồi gửi Hợp đồng cho ông qua đường bưu điện.
Trong thời gian chờ bà H2 rút hồ sơ, để phục vụ cho nhu cầu công việc, ông đã mang xe đi cải tạo, sửa chữa với tổng số tiền sửa xe là 85 triệu đồng. Ông là người trực tiếp quản lý, sử dụng xe chứ không cho ai mượn, thuê hay sử dụng xe.
Khoảng 02 tháng sau, ông nhận được hồ sơ bà H2 gửi qua đường bưu điện nên ông đã nhờ người quen là bà Trần Thúy H4 chuyển vào tài khoản của Nguyễn Quốc H3 số tiền còn lại là 3.000.000₫ (do bà Huyền gia 1 cho ông 2.000.000₫). Khi ông mang hồ sơ đến Phòng cảnh sát giao thông Công an H làm thủ tục sang tên thì Công an phát hiện số máy chiếc xe bị tẩy xóa, sửa chữa nên ông không làm thủ tục sang tên được. Qua mạng xã hội facebook, ông Nguyễn Xuân H5 đã chủ động liên hệ với ông nói về việc đã từng hỏi mua chiếc xe ô tô này nhưng phát hiện số máy của xe bị dán nên ông H5 không mua nữa.
Nhận thấy sự việc có dấu hiệu của tội phạm nên ông đã làm đơn tố cáo hành vi gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản của bà H2 đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh P. Quá trình giải quyết ông đã cung cấp đoạn ghi âm bà H2 và ông T thừa nhận đã biết việc thay lốc máy, lốc máy bị đục, tẩy xóa chiếc xe. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P giám định số khung, số máy và thông báo cho ông biết số máy
chiếc xe bị tẩy xóa, sửa chữa trong quá trình bà H2 sử dụng nhưng bà H2 và ông T không thừa nhận. Cơ quan CSĐT còn cho biết trước khi bán xe cho ông thì có ông Đào Xuân H6 đã đến gặp bà H2 để hỏi mua xe nhưng ông H6 phát hiện lốc máy của chiếc xe bị tẩy xóa, sửa chữa nên không mua nữa. Bà H2 và ông T có hành vi gian dối, cố tình bán chiếc xe, gây thiệt hại cho ông trong thời gian qua không sử dụng xe để kinh doanh được.
Ngày 13/7/2022, ông có đơn đề nghị Tòa án trưng cầu giám định thời gian xe ô tô bị tẩy xóa số máy và trưng cầu giám định chữ ký trong Hợp đồng mua bán xe ô tô đề ngày 16/6/2020 có phải chữ ký của ông hay không.
Ngày 15/8/2022, ông xin rút yêu cầu giám định chữ ký trong hợp đồng mua bán xe ngày 16/6/2020 và không đề nghị giám định các file ghi âm cuộc gọi từ số điện thoại của ông đến số bà H2 là nguyên bản, không bị cắt ghép, không đề nghị giám định giọng nói của người đàn ông trong file ghi âm ngày 23/6/2020 mà ông đã nộp cho Tòa án. Ngày 09/9/2022, ông có đơn đề nghị rút yêu cầu trưng cầu giám định số máy 06DA 8238267 của ô tô tải BKS 19C 046 14 bị đục trong thời gian nào vì nhận thấy việc giám định không có cơ sở khoa học. Tại cấp phúc thẩm ông H lại đề nghị giám định các file ghi âm cuộc gọi từ số điện thoại của ông đến số bà H2 là nguyên bản, không bị cắt ghép. Kết luận giám định giọng nói trong đoạn băng ghi âm là của bà H2. Do vậy, ông H đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng mua bán xe giữa ông và công ty P vô hiệu do lừa dối. Ông đề nghị giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu, buộc Công ty P nhận lại chiếc xe ô tô và trả lại tiền mua xe cho ông là 523.000.000₫ và phải bồi thường thiệt hại cho ông do thu nhập bị mất là 30.000.000₫ x 39 tháng = 1.170.000.000₫, tiền lãi vay mua xe là 523.000.000₫ x 1%/tháng x 39 tháng = 203.970.000₫, tiền sửa xe: 85.000.000₫, tổng cộng là 1.981.970.000đồng.
Bị đơn Công ty P do ông Nguyễn Ngọc T đại diện theo pháp luật trình bày:
Công ty P là chủ sở hữu chiếc xe ô tô tải BKS 19C-046.14. Nguồn gốc chiếc xe này do công ty mua lại của người tên H7 ở Hà Nội, ông không biết rõ họ tên và địa chỉ ở đâu, chỉ nghe bà H2 nói lại là ở Cầu Đ, Hà Nội. Toàn bộ việc mua xe do vợ chồng bà H2 thực hiện theo sự ủy quyền của ông vì bà H2 là em gái ông và là kế toán của công ty P. Toàn bộ thủ tục đăng ký, đổi biển kiểm soát và chuyển vùng, đăng ký do bà H2 thực hiện. Khi làm các thủ tục đăng ký chuyển vùng và sang tên công ty P từ người bán không có bất cứ vướng mắc nào. Sau khi mua xe về, công ty vẫn quản lý, sử dụng, ngoài hỏng hóc vặt thì trong quá trình sử dụng đến trước khi bán cho ông H không sửa chữa gì liên quan đến số khung, số máy.
Tháng 4/2020, bà H2 báo với ông về việc có người muốn mua chiếc xe nói trên và trình cho ông hợp đồng mua bán xe ô tô đề ngày 20/4/2020 giữa bên bán là công ty P và bên mua là bà Lê Thị O (sau này ông mới biết là vợ của ông H). Ông không gặp, không trực tiếp giao dịch với ông H mà toàn bộ do bà H2 thực hiện, ông chỉ kiểm tra thấy nội dung giao dịch đúng thì ông ký. Khi biết hợp đồng không đứng tên ông H mà đứng tên bà O, ông có hỏi thì bà H2 giải thích do ông H yêu cầu, đến khi nào chuyển toàn bộ tiền và làm lại hợp đồng mua bán thì xác định tên người mua sau. Ông không nhớ rõ ngày hai bên ký hợp đồng mua bán xe nhưng
nhớ ngày giao xe ngay sau khi thống nhất về giá cả và ông H chuyển khoản 520 triệu đồng, công ty đã giao xe cho anh H quản lý và sử dụng (ngày 20/4/2020).
Hai bên có thỏa thuận giá là 525 triệu đồng nhưng trong hợp đồng mua bán xe thì số tiền mua xe và thuế là 55 triệu đồng. Ông có hỏi bà H2 về sự khác nhau này thì bà H2 cho biết do ông H yêu cầu nên ông vẫn đồng ý ký. Bà H2 là người trình hợp đồng lên cho ông ký còn việc bên mua hay bên bán ký trước ông không nhớ. Việc số máy bị đục ông H không thông báo với ông mà ông biết sự việc qua bà H2. Ông không biết nguyên nhân tại sao số máy bị tẩy xóa. Ông xác định những đoạn ghi âm mà Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh P mở cho ông nghe thì giọng người đàn ông trong đoạn hội thoại không phải giọng của ông, còn những giọng người khác ông không xác định được là của ai.
Chiếc xe ô tô trên của công ty P vẫn được đi kiểm định định kỳ, không có vấn đề gì liên quan đến số máy. Quá trình ông H sử dụng xe được 02 tháng sau đó thông báo xe bị đục máy thì ông H phải chịu trách nhiệm. Ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn do hai bên đã thực hiện xong việc mua bán, bên mua đã mang xe về sử dụng, giấy tờ pháp lý đã chuyển giao, bên mua đã sửa chữa xe và sau 02 tháng mới chuyển biển số và các giấy tờ cho công ty làm thủ tục chuyển vùng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Thanh H2 trình bày:
Bà xác nhận lời trình bày của ông T về việc công ty P mua chiếc xe ô tô trên là đúng. Mọi thủ tục đăng ký đổi biển kiểm soát và chuyển vùng do bà thực hiện. Khi mua xe, bà nhận được 01 bộ hồ sơ niêm phong do anh H7 gửi cho bà, được sự ủy quyền của ông T, bà mang hồ sơ niêm phong đến Phòng C Công an tỉnh P để thực hiện việc đăng ký. Khi đó bà có đem theo xe đến và trình tự, thủ tục thế nào do Phòng C Công an tỉnh P hướng dẫn, bà không phải là người cà số khung, số máy. Việc đăng ký xe chuyển vùng sang công ty P không có vướng mắc gì và trong quá trình sử dụng ngoài hỏng hóc vặt thì công ty không sửa chữa gì liên quan đến số khung, số máy.
Bà là người trực tiếp giao dịch mua bán xe với ông H. Khoảng tháng 4/2020, ông H chủ động gọi điện cho bà hỏi mua xe ô tô. Ngày 20/4/2020, ông H đi cùng một người nam giới (bà không biết tên, tuổi, địa chỉ) đến nhà bà để xem xe, bàn bạc giá cả, bà đã nói xe ô tô đã hết đăng kiểm, nếu đồng ý mua thì Công ty sẽ đi đăng kiểm lại.
Sau khi xem xe, hai bên thỏa thuận giá mua bán là 525 triệu đồng và ông H phải chịu thuế. Ông H đồng ý mua xe với giá trên và nói tạm thời để người đứng tên mua là bà Lê Thị O, còn sau này đứng tên ai thì làm hợp đồng chính thức sau. Vì vậy, bà đã soạn hợp đồng đầu tiên có tên người mua là Lê Thị O và trình lên cho giám đốc công ty là ông T ký.
Cùng ngày, ông H đã chuyển vào tài khoản của Nguyễn Quốc H3 (con trai bà) số tiền 520.000.000đồng. Lý do bà cung cấp số tài khoản của con trai để ông H chuyển khoản là vì ông H chưa quyết định chiếc xe sẽ đứng tên ai nên chuyển tạm vào tài khoản của con trai sau đó sẽ rút ra và làm hợp đồng sau. Bà đã nhận lại từ
anh H3 đủ số tiền 523 triệu đồng. Hai bên hẹn khi nào ông H làm thủ tục chuyển vùng thì thanh toán nốt. Sau khi nhận tiền và xe đi đăng kiểm về thì bà đã bàn giao xe và giấy tờ xe cho ông H đưa xe về Hải Phòng.
Ông H hẹn vài ngày sau lên làm thủ tục nhưng sau đó lại đưa xe về sửa chữa, tháo xe ra và 02 tháng sau mới gửi biển số, giấy tờ cho bà theo đường bưu điện và chốt người đứng tên là Hoàng Mạnh H, gửi kèm theo hợp đồng thứ hai cho bà vào ngày 16/6/2020. Hợp đồng này do ông H đánh máy sẵn chứ không phải công ty bà soạn. Bà trình hợp đồng thứ hai ghi tên người mua là Hoàng Mạnh H cho ông T ký. Sau đó, bà làm thủ tục giấy tờ gửi đến Phòng C Công an tỉnh P làm giấy di chuyển và gửi qua đường bưu điện cho ông H. Vài ngày sau, ông H gọi điện báo là xe không đăng ký được và tố giác bà đến cơ quan công an. Kết luận điều tra của cơ quan công an xác định Công ty và bà không có sai phạm.
Việc mua bán giữa hai bên là hoàn toàn tự nguyện, ông H đã được kiểm tra tài sản trước khi nhận và đã sử dụng xe. Sau khi nhận xe thì ông H đã sửa chữa, ông H còn gửi cho bà video có hình ảnh chiếc xe bị tháo dỡ 1 số bộ phận nhưng bà không rõ là bộ phận nào. Bà có hỏi ông H tại sao tháo xe trong khi xe vẫn hoạt động bình thường thì ông H trả lời sửa chữa để xe chạy tốt hơn. Lúc đó, ông H cũng không thông báo với bà việc xe hỏng hóc bộ phận nào.
Sau này ông H mới thông báo cho bà biết về việc số máy bị tẩy xóa nên Công an thành phố H không đăng ký được. Trước khi bán xe cho ông H xe vẫn do công ty quản lý và để ở bãi xe, không sửa chữa gì, bà cũng không biết nguyên nhân tại sao số máy bị tẩy xóa. Ông H cho rằng xe bị tẩy xóa số máy trong thời gian trước khi chuyển giao cho ông H, bà không đồng ý vì khi Công ty mua lại xe đã đăng ký chuyển vùng và theo định kỳ phải đi đăng kiểm tại trung tâm Đ tại tỉnh Phú Thọ vẫn đăng ký bình thường, không thấy có thông báo gì về việc sửa chữa số khung, số máy. Lần đăng kiểm gần nhất ngày 20/4/2020 công ty vẫn đưa xe đến Trung tâm đăng kiểm và vẫn đăng kiểm bình thường, nếu ông H cho rằng việc sửa chữa xóa số máy trước ngày 20/4/2020 thì công ty không thể đăng kiểm xe được.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh P đã kết luận không có dấu hiệu tội phạm nên không khởi tố vụ án hình sự, bà và công ty P không gian dối nên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa ngày 30/9/2022: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đề nghị đưa bà Lê Thị O tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan do đây là tài sản chung của vợ chồng. Đồng thời, nguyên đơn thừa nhận trong thời hạn chuẩn bị xét xử, ông đã rút toàn bộ các yêu cầu trưng cầu giám định nhưng nay ông đề nghị giám định chữ ký, chữ viết trong hợp đồng ngày 16/6/2020 vì thấy cần thiết, đối với các vấn đề cần giám định khác ông không yêu cầu.
Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Lời trình bày của ông H là đại diện theo uỷ quyền của bà O: Bà O nhất trí với yêu cầu khởi kiện của ông H.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số:18/2022/DS-ST ngày 28/10/2022, Tòa án nhân dân (TAND) huyện P đã quyết định:
Căn cứ các Điều 117, 122, 127, 430 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 39, khoản 1 Điều 147, Điều71, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 26, khoản 3 Điều 27 của Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH14 ngày 31/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội, quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
- Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Mạnh H về việc tuyên bố Hợp đồng mua bán xe ô tô giữa Công ty TNHH T và ông Hoàng Mạnh H là vô hiệu;
- Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu và bồi thường thiệt hại.
Ngoài ra bản án còn tuyên nghĩa vụ chịu án phí, quyền yêu cầu thi hành án và các quyền khác theo quy định của pháp luật.
Ngày 20/9/2022 ông Hoàng Mạnh H kháng cáo không đồng ý với bản án sơ thẩm đề nghị tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ sửa toàn bộ bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông H.
Viện Kiểm sát nhận dân tỉnh kháng nghị cho rằng cấp sơ thẩm tính án phí buộc ông H phải chịu án phí có giá ngạch là không đúng, đề nghị sửa cách tính án phí buộc ông H phải chịu 300.000đồng án phí đề nghị tuyên hợp đồng vô hiệu, và 300.000 đồng án phí đối với yêu cầu bồi thường không được chấp nhận.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Ông Hà giữ nguyên kháng cáo, những căn cứ kháng cáo như đơn kháng cáo.
Đề nghị tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ sửa toàn bộ bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông H. Đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng mua bán xe giữa ông H và công ty P vô hiệu do ông H bị lừa dối đề nghị Công ty TNHH T bồi thường cho ông các khoản tiền: Tiền mua xe: 532.000.000đồng; tiền thiệt hại do thu nhập bị mất 30.000.000đồng/tháng x 39 tháng = 1.170.000.000đồng, T2 lãi vay mau xe 523.000.000đồng x 1%/tháng x 39 tháng = 203.000.000đồng; tiền sửa chữa xe 85.000.000đồng. Tổng số tiền ông H đề nghị công ty P bồi thường là 1.981.970.000đồng.
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ giữ nguyên kháng nghị và căn cứ kháng nghị
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự. Chấp nhận kháng cáo của ông Hoàng Mạnh H và chấp nhận kháng nghị của VKS nhân dân tỉnh, sửa bản án sơ thẩm số:18/2022/DS-ST ngày 28/10/2022, Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh.
(Chi tiết tại bài phát biểu của Kiểm sát viên lưu hồ sơ vụ án).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên; Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Kháng cáo của ông Hoàng Mạnh H và kháng nghị của Viện kiểm sát nhận dân tỉnh Phú Thọ trong hạn luật định, hợp lệ nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Nội dung kháng cáo, kháng nghị trong phạm vi xét xử của bản án sơ thẩm. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét nội dung này theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung kháng cáo: Ông Hoàng Mạnh H kháng cáo không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm đề nghị tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ sửa toàn bộ bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông H. Đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng mua bán xe giữa ông và công ty P vô hiệu do ông bị lừa dối. Ông H đề nghị Công ty TNHH T bồi thường cho ông tổng số tiền 1.981.970.000đồng. Căn cứ vào các tình tiết có trong hồ sơ vụ án Hội đồng xét xử nhận định như sau: Trước hết là lời trình bày của ông Vũ Mạnh T3 là chủ sở hữu chiếc xe ô tô tải BKS 19C-046.14 bán cho Công ty TNHH T. Ông T3 trình bày năm 2011 ông mua chiếc xe tải trên với gía khoảng 1 tỷ đồng. Sau khi mua về khoảng 3 tháng sau ông T3 sử dụng thì bị vỡ máy, vỡ lốc máy của xe. Ông T3 đã đưa xe vào trung tâm bảo hành, nhưng do ông T3 hoán cải lốp và thùng xe nên không được chấp nhận bảo hành. Vì vậy ông T3 phải mua mới phần máy của ô tô ở cơ sở kinh doanh phụ tùng xe ô tô ở Ninh Bình để thay thế phần máy của ô tô này. Do không nghĩ đến việc thay máy phải làm thủ tục đăng ký lại nên ông T3 bảo cơ sở sửa chữa cắt phần sắt có ghi số máy từ máy cũ đã bị hỏng và lắp vào máy mới của xe. Khi bán xe cho Công ty P ông T3 không nói gì về việc xe đã bị thay máy. Như vậy, xác định chiếc xe trên đã bị thay máy từ thời điểm ông T3 đang sử dụng.
Về phía ông H sau khi nhận xe từ Công ty TNHH T, ông Hoàng Mạnh H đến Phòng C để làm thủ tục sang tên, đổi biển. Nghi ngờ số khung, số máy của xe ô tô BKS: 19C-046.14 bị tẩy xóa, sửa chữa nên Phỏng Cảnh sát giao thông Công an thành phố H đã trưng cầu Phòng K Công an tỉnh H giám định số khung, số máy của xe ô tô BKS: 19C-046.14. Tại Bản kết luận giám định số: 953/KLGĐ-2020 ngày 15/9/2020 của Phòng K Công an tỉnh P kết luận: “Chiếc xe ô tô nói trên: Số khung không bị tẩy xóa, sửa chữa. Bề mặt nơi đóng số máy bị tẩy xóa cơ học không đọc được số nguyên thủy”. Tại Bản kết luận giám định số 1039/KLGĐ-2020 ngày 15/10/2020 của Phòng K Công an tỉnh P kết luận: "Các chữ số "KMPLA19APBC053559" tại "bản cà số" dân ở mục "Dân bản cà số máy, số khung trên “Giấy khai đăng ký xe” ghi tên chủ xe: Vũ Mạnh T3, địa chỉ: Số H - H- N - tỉnh Nam Định (ký hiệu A) và trên "Giấy khai đăng ký xe ghi tên chủ xe Công ty TNHH T; địa chỉ: Thị trấn P - P - Phú Thọ (ký hiệu A2) so với các chữ số “KMPLA19APBC053559" tại "bản cà số" dân trên tờ giấy A4 do Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P trực tiếp thu mẫu (ký hiệu M) là được cà từ cùng một dãy ký tự đóng chìm in ra; Các chữ số "D6DA8238267" tại "bản cà số" dân ở mục “Dân bản cà số máy, số khung" trên "Giấy khai đăng ký xe” ghi tên chủ xe: Vũ Mạnh T3, địa chỉ: Số H - H- N - tỉnh Nam Định (ký hiệu Al) so với các chữ số “D6D48238267" tại “bản cà số" dán ở mục "Dán bản cà số máy, số khung” trên "Giấy khai đăng ký xe” ghi tên chủ xe Công ty TNHH T, địa chỉ: Thị trấn P - P - P (ký hiệu A2) là
được cà từ cùng một dãy ký tự đóng chìm in ra; Các chữ số “D6DA8238267” tại “bản cà số” dán ở mục "Dán bản cà số máy, số khung” trên “Giấy khai đăng kỷ xe" ghi tên chủ xe: Vũ Mạnh T3, địa chỉ: Số H H- N tỉnh Nam Định (ký hiệu Al) so với các chữ số "D6D48238267” tại “bản cà số” dán trên tờ giấy A4 do Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P trực tiếp thu mẫu (ký hiệu M) là không phải được cà từ cùng một dãy ký tự đóng chìm in ra.
Tại cơ quan điều tra, tại phiên toà bà Nguyễn Thị Thanh H2 và ông Nguyễn Ngọc T khai nhận đã mua chiếc xe ô tô trên từ năm 2014 sau đó về sử dụng cho đến nay và không thừa nhận sự việc sửa chữa, tẩy xóa số máy của xe ô tô BKS: 19C-046.14 trước khi bán cho ông Hoàng Mạnh H. Tại cấp phúc thẩm ông H đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ giám định đoạn băng ghi âm ông ghi lại cuộc nói chuyện với bà H2 vào ngày 23/6/2020 nội dung thể hiện bà H2 biết chiếc xe ô tô BKS: 19C-046.14 bị vỡ lốc máy trước khi bán xe cho ông H được thay lốc máy mới và để lốc máy cũ tại nhà nên số máy bị thay đổi. Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ tiến hành ra quyết định trưng cầu giám định giọng nói của bà H2 trong 02 đoạn băng ghi âm lưu trong USB do ông H cung cấp, mẫu so sánh giám định giọng nói của bà H2 được toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ tiến hành thu thập trực tiếp trước sự chứng kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ. Toàn bộ mẫu giám định được gửi đến V - Bộ C1. Ngày 30/6/2023 V Bộ C1 đã có kết luận số: 85/KL-KTHS kết luận: Tiếng nói của người phụ nữ trong các tập tin âm thanh mẫu cần giám định và tiếng nói của bà Nguyễn Thị Thanh H2 trong mẫu so sánh là cùng một người nói ra.
Tại phiên toà phúc thẩm Hội đồng xét xử đã tiến hành nghe lại toàn bộ nội dung đoạn ghi âm mà ông H đề nghị giám định. So sánh 02 văn bản do ông H trình bày với nội dung đoạn hội thoại giữa ông H với bà H2 trong 02 đoạn Hội đồng xét xử xác định là chính xác và Hội đồng xét xử, đại diện Viện kiểm sát, ông H, luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông H đã ký xác nhận văn bản trình bày chi tiết của ông H nội dung 02 đoạn ghi âm được giám định. Tại phiên toà ông T và bà H2 được nghe đoạn ghi âm, tuy nhiên không ký vào văn bản trình bày chi tiết của ông Hà Nội d 02 đoạn ghi âm được giám định với lý do xác định giọng nói trong đoạn ghi âm không phải của bà H2.
Ngoài ra trong hồ sơ vụ án còn có lời khai của anh Đào Xuân H6, sinh năm 1980 trú tại: thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc xác định trước khi bản xe cho ông H, anh H6 đã nhiều lần lên gặp gỡ bà H2, xem xe ô tô BKS: 19C-046.14 để thỏa thuận mua bán với bà H2 và khi quan sát bằng mắt thường, anh H6 phát hiện số máy của xe ô tô BKS: 19C-046.14 bị tẩy sửa, không còn nguyên thủy nên đã đòi lại tiền đặt cọc và không mua xe ô tô trên của bà H2 nữa. Sau khi ông H mua xe ô tô của bà H2 và đăng lên mạng xã hội Facebook thì anh H6 mới biết và có trao đổi, nói lại sự việc cho anh H biết. Tại phiên toà bà H2 cũng thừa nhận có việc ông H6 đặc cọc mua chiếc xe trên, nhưng sau đó ông H6 không mua nữa nguyên nhân không phải như ông H6 trình bày. Mặc dù bà Nguyễn Thị Thanh H2 và ông Nguyễn Ngọc T, Giám đốc công ty TNHH T không thừa nhận sự việc tẩy xóa, sửa chữa số máy của xe ô tô BKS: 19C-046.14. Nhưng các tài liệu, chứng cứ có trong
hồ sơ vụ án đã xác định số máy của xe ô tô BKS: 19C-046.14 đã bị đục, tẩy xoá trước khi công ty TNHH T bán cho ông H, tại kết luận xác minh tố giác tội phạm của cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh P cũng đã kết luận: Chiếc xe ô tô BKS: 19C-046.14 được tẩy xóa, sửa chữa số máy từ trước khi công ty TNHH T bán cho anh Hoàng Mạnh H. Thời điểm sửa chữa xác định nằm trong giai đoạn công ty TNHH T quản lý, sử dụng phương tiện từ ngày 16/6/2014 đến ngày 20/4/2020.
Như vậy, việc mua bán xe ô tô trên giữa anh Hoàng Mạnh H và công ty TNHH T là giao dịch dân sự do các bên tự nguyện trao đổi, thỏa thuận mua bán với nhau. Mặc dù trước khi bán xe cho ông H xe đã bị tẩy xóa, sửa chữa số máy nhưng công ty TNHH T không cho ông H biết trước về tình trạng phương tiện trước khi mua. Bà H2, ông T đã thoái thác trách nhiệm của mình và cho rằng việc mua bán xe giữa hai bên đã xong, bên bán đã giao xe, bên mua đã thanh toán tiền cho bên bán, nên bên mua phải chịu trách nhiệm. Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật xe ô tô là tài sản phải đăng ký quyền sở hữu, Hợp đồng mua bán xe giữa công ty P với ông H nghĩa vụ của bên bán là công ty P phải có trách nhiệm cho đến khi ông H được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy đăng ký xe đứng tên ông H. Trong trường hợp này chiếc xe ô tô tải mà cô ty P2 bán cho ông H khi công ty giao xe cho ông H không đảm bảo về chất lượng, phía công ty không cho ông H biết về tình trạng xe đã bị đục, tẩy xoá số máy. Hành vi trên công ty TNHH T do ông Nguyễn Ngọc T là người đại diện theo pháp luật là hành vi lừa dối trong giao dịch dân sự.
Bản án sơ thẩm số: 18/2022/DS-ST ngày 28/10/2022 của Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh xử bác yêu cầu khởi kiện của ông H là không có căn cứ. Tuy nhiên, tại cấp sơ thẩm ông H không đề nghị giám định do vậy, chưa có đủ căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H. Tại cấp phúc thẩm phát sinh tình tiết mới làm thay đổi bản chất của vụ án, nên cần sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Mạnh H, tuyên bố Hợp đồng mua bán xe ô tô giữa Công ty TNHH T và ông Hoàng Mạnh H là vô hiệu;
Hậu quả của hợp đồng vô hiệu không phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Do vậy, ông H có trách nhiệm trả lại chiếc xe tải BKS 19C-046.14 và hồ sơ giấy tờ kèm theo xe (Hiện tại hồ sơ giấy tờ xe do phòng C, đường sắt - Công an thành phố H giữ) cho công ty TNHH T. Công ty TNHH T có trách nhiệm thanh toán trả cho vợ chồng ông H và bà O số tiền 523.000.000đồng.
Về xác định lỗi và trách nhiệm bồi thường dẫn đến hợp đồng vô hiệu. Lỗi dẫn đến hợp đồng mua bán xem ô tô tải BKS 19C-046.14 giữa công ty TNHH T với ông H vô hiệu hoàn toàn do lỗi của công ty TNHH T. Do vậy, công ty TNHH T có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho ông H. Khoản tiền bồi thường ông H đề nghị gồm: Thiệt hại do thu nhập bị mất: 1 tháng x 30.000.000đồng/tháng x 39 thàng = 1.170.000.000đồng; T2 vay lãi mua xe 1%/Tháng x 39 tháng x 523.000.000đồng = 203.000.000đồng; tiền sửa chữa xe 85.000.000đồng; Tổng số tiền thiệt hại là 1.458.000.000đồng. Xét yêu cầu đề nghị bồi thường của ông H hội đồng xét xử nhận định như sau:
Đối với khoản tiền thiệt hại do thu nhập bị mất: 1 tháng x 30.000.000đồng/tháng x 39 tháng = 1.170.000.000đồng. Tại phiên toà phúc thẩm ông H xuất trình tài liệu, chứng cứ cho tòa án là các hợp đồng cho thuê xe mà ông H đã thuê của anh Nguyễn Công T4 và chị Vũ Thị P số tiền thuê xe vận tải với giá thuê 30.000.000đồng/tháng. Có hợp đồng thuê có giấy xác nhận giao tiền thuê cho nhau, tổng số tiền ông H phải thanh toán cho chị P là 540.000.000đồng và thanh toán cho anh T4 600.000.000đồng. Ông H đề nghị tòa án buộc công ty P3 H3 bồi thường thiệt hại số tiền là 1.140.000đồng. Tuy nhiên, những căn cứ do ông H xuất trình đề nghị bồi thường đối với số tiền 540.000.000đồng thuê xe của chị P không đủ căn cứ để chấp nhận vì thời điểm ông H trình bày thuê xe của chị P đúng vào thời gian dịch covid giãn cách xã hội cao điểm từ tháng 6/2020. Hơn nữa ông H chỉ có hợp đồng thuê giữ hai bên, không cung cấp được đăng ký xe và các tài liệu liên quan đến thuê xe, nên không có đủ căn cứ để chấp nhận số tiền 540.000.000đồng ông H khai thuê xe của chị P. Đối với số tiền 600.000.000 đồng ông H trình bày thuê xe của anh T4. Trong hồ sơ ông H xuất trình được hợp đồng thuê xe, các giấy tờ, tài liệu liên quan đến xe như đăng ký xe và có xác nhận có việc thuê xe của ông T4. Thời điểm hiện tại ông H vẫn đang thuê xe của ông T4. Xét thấy, thực tế thiệt hại của ông H xảy ra do công ty P là có. Nên hội đồng xét xử xem xét chấp nhận cho ông H số tiền 600.000.000đồng mà ông H thuê xe của ông anh T4.
Đối với khoản tiền lãi xuất 203.000.000đồng mà ông H trình bày vay để mua xe của công ty TNHH T ông H đề nghị Công ty bồi thường. Tại phiên toà ông H trình bày khoản tiền này ông H vay của anh, chị em trong gia đình không có giấy vay. Hội đồng xét xử nhận thấy: khoản tiền 600.000.000đồng ông H trình bày mất thu nhập do hợp đồng mua bán xe giữa ông và công ty P không thực hiện được đã được chấp nhận, ông H trình bày vay nhưng không xuất trình được tài liệu, chứng cứ chứng minh ông H vay tiền của ai nên yêu cầu tính lãi không có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với số tiền ông H đề nghị công ty TNHH T thanh toán trả ông H đã bỏ tiền ra sửa chữa xe sau khi mua của công ty TNHH T hết 85.000.000đồng có hóa đơn, giấy tờ và việc sửa chữa xe bà H2 cũng biết nên được chấp nhận.
Đối với kháng nghị của viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ kháng nghị: cấp sơ thẩm tính án phí buộc ông H phải chịu án phí có giá ngạch là không đúng, đề nghị sửa cách tính án phí buộc ông H phải chịu 300.000đồng án phí đề nghị tuyên hợp đồng vô hiệu và 300.000 đồng án phí đối với yêu cầu bồi thường không được chấp nhận. Đối với nội dung kháng nghị buộc ông H phải chịu 300.000đồng án phí đề nghị tuyên hợp đồng vô hiệu là có căn cứ được chấp nhận còn nội dung kháng nghị buộc ông H phải chịu và 300.000 đồng án phí đối với yêu cầu bồi thường không được chấp nhận không đúng quy định của pháp luật nên không được chấp nhận.
Về chi phí tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án ông H đề nghị toà án trưng cầu giám định. Tuy nhiên, V - Bộ C1 không thu tiền chi phí giám định nên đương sự không phải chịu. Tiền chi phí thuê xe đi giám định và thuê xe nhận kết quả giám định hết 2.500.000đồng, ông H tự nguyện chịu (xác định đã nộp)
[4] Về án phí sơ thẩm: Phần yêu cầu khởi kiện của ông H được chấp nhận nên công ty P phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm. Ông H phải chịu án phí đối với số tiền đề nghị bồi thường không được chấp nhận.
Về án phí phúc thẩm: Kháng cáo của ông H được chấp nhận nên ông H không phải chịu án phí phúc thẩm.
Quan điểm của Kiểm sát viên đề nghị chấp nhận kháng cáo sửa bản án sơ thẩm và chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
(Chi tiết tại bài phát biểu của Kiểm sát viên lưu hồ sơ vụ án).
Vị các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1]. Chấp nhận kháng cáo của ông Hoàng Mạnh H và một phần kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số:18/2022/DS-ST ngày 28/10/2022 của Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.
Căn cứ: Khoản 1 Điều 147, khoản 2 Điều 148 BLTTDS; khoản 4 Điều 26, khoản 2 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Áp dụng:Điều 106, 122, 123, 131, 360, 361, 407, 408, 419, 430, 432, 445, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
[2]. Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Mạnh H
Tuyên bố Hợp đồng mua bán xe ô tô tải BKS 19C-046.14 ngày 16/6/2020 giữa Công ty trách nhiệm hữu hạn T và ông Hoàng Mạnh H vô hiệu.
Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn T phải trả cho ông Hoàng Mạnh H và bà Lê Thị O số tiền 523.000.000đồng (năm trăm hai mươi ba triệu đồng).
Ông Hoàng Mạnh H có trách nhiệm trả lại cho công ty trách nhiệm hữu hạn T chiếc xe tải biển kiểm soát 19C- 046.14 đứng tên công ty TNHH T. Ông H có trách nhiệm đến phòng C, đường sắt - Công an thành phố H nhận lại hồ sơ giấy tờ xe để trả cho công ty TNHH T.
Công ty TNHH T có trách nhiệm bồi thường cho ông Hoàng Mạnh H và bà Lê Thị O số tiền thiệt hại do mất thu nhập là 600.000.000đồng (Sáu trăm triệu đồng) và số tiền sửa chữa xe là 85.000.000đồng (T5 mươi lăm triệu đồng). Tổng số tiền là 685.000.000đồng (Sáu trăm tám mươi lăm triệu đồng)
[4] Về chi phí tố tụng: Tiền chi phí thuê xe đi giám định và thuê xe nhận kết quả giám định hết 2.500.000đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng), ông H tự nguyện chịu (xác định đã nộp)
[5]. Về án phí.
Án phí dân sự sơ thẩm: Công ty TNHH T phải chịu 300.000đồng tiền án phí dân sự không giá ngạch và 31.400.000đồng (Ba mươi mốt triệu bốn trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự có giá ngạch. Ông Hoàng Mạnh H phải
chịu 34.958.800đồng (Ba mươi tư triệu chín trăm năm mươi tám nghìn tám trăm đồng) án phí dân sự có giá ngạch. Xác nhận ông H đã nộp 22.000.000đồng (Hai mươi hai triệu đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí sơ thẩm số AA/2020/0001251 ngày 18 tháng 10 năm 2021 của chi cục thi hành án dân sự huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ. Ông H còn phải nộp 12.958.800đồng (Mười hai triệu triệu chín trăm năm mươi tám nghìn tám trăm đồng).
Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Hoàng Mạnh H không phải chịu án phí phúc thẩm. H8 lại cho ông H 300.000đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí phúc thẩm số: AA/2020/0001617 ngày 04 tháng 11 năm 2022 của chi cục thi hành án dân sự huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
“Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7, 7a và 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
[3] Các quyết định khác của bản án không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Bản án số 58/2023/DS-PT ngày 21/08/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
- Số bản án: 58/2023/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoàng Mạnh H và công ty P H tranh chấp HĐ mua bán tài sản
