Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 4 – TÂY NINH

Bản án số: 58/2025/DS-ST

Ngày: 17-12-2025

V/v Tranh chấp Hợp đồng

sử dụng thẻ tín dụng

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

———————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Cao Thiên Trang

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Phạm Văn Tám
  2. Bà Đặng Thị Bích Loan

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Văn Thành – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 4 – Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 – Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Diễm - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 4 – Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 214/2025/TLST-DS ngày 16 tháng 10 năm 2025 về tranh chấp “Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2025/QĐXX-ST ngày 12 tháng 11 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 57/2025/QĐST-DS ngày 28 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (S1)

    Địa chỉ trụ sở: Lầu H; 2 N, phường X, thành phố Hồ Chí Minh.

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thanh N – Chức vụ: Quyền Tổng giám đốc.

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Huỳnh Trung T – Chuyên viên khách hàng cá nhân.

    Địa chỉ liên hệ: 18A Nguyễn Hữu T1, ấp B, xã B, tỉnh Tây Ninh.

    (Văn bản ủy quyền ngày 21/7/2025)

  2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Cẩm P, sinh năm 1997

    Địa chỉ: Ấp F T, xã B, tỉnh Tây Ninh.

    (Ông T có đơn xin vắng mặt, bà P vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện ngày 21/7/2025, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S do ông Huỳnh Trung T là người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng trình bày:

Ngày 20/07/2021, bà Nguyễn Thị Cẩm P có ký với Ngân hàng TMCP S2 (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng). Căn cứ thu nhập của Bà P, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng Family với hạn mức sử dụng là 40.000.000 đồng.

Khoảng tháng 9/2023, bà P thực hiện đăng ký vay tiêu dùng trên ứng dụng S1 với số tiền giải ngân là 20.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân.

Đối với thẻ tín dụng Family 970403-7076: Bà P đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 28.200.000 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ đến nay, bà P đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 100.000 đồng (Thứ tự ưu tiên thanh toán căn cứ theo Điều 21 của Bản Điều khoản). Sau thời gian sử dụng, bà P không có thiện chí trả nợ. Do Bà P vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 18 của Bản Điều khoản), ngày 15/02/2025, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của bà P, chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu (Dư nợ gốc) sang nợ quá hạn (Điều 24 của Bản Điều khoản). Tính đến ngày 16/12/2025, thẻ tín dụng Family 970403-7076 của bà P còn nợ tổng số tiền 47.603.211 đồng cụ thể như sau: Dư nợ quá hạn: 33.513.115 đồng, lãi quá hạn: 14.090.096 đồng. Tổng cộng: 47.603.211 đồng ( Lãi suất trong hạn: 2.766%/tháng, Lãi suất quá hạn: 4.149%/tháng (2.766%X150%)).

Đối với K vay tiêu dùng S1 giải ngân qua số tài khoản 3472686900: Từ ngày giải ngân số tiền 20.000.000 đồng đến nay, bà P đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 23.728.889 đồng, sau đó thì ngưng. Do bà P vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 3 của Bản Điều khoản), ngày 26/01/2023, Ngân hàng đã chấm dứt và chuyển toàn bộ dư nợ gốc sang nợ quá hạn (Điều 5 của Bản Điều khoản). Tính đến ngày 16/12/2025, khoản vay S1 của bà P còn nợ tổng số tiền: 1.883.726 đồng cụ thể: Dư nợ quá hạn: 1.391.111 đồng, L quá hạn: 492.615 đồng. Tổng cộng: 1.883.726 đồng (Lãi suất trong hạn: 1.4%/tháng; Lãi suất quá hạn: 2.1%/tháng (1.4%x150%)).

Mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần yêu cầu nhưng bà P vẫn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán, vi phạm các Điều khoản và Điều kiện đã qui định tại Hợp đồng.

Nay Ngân hàng yêu cầu bà P phải thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền gốc và lãi tạm tính đến ngày 16/12/2025 là 49.486.937 đồng, trong đó: Nợ gốc là: 34.904.226 đồng, nợ lãi là: 14.582.711 đồng. Ngoài ra, bà P còn phải chịu khoản tiền lãi phát sinh từ ngày 17/12/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

2

Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, bị đơn bà Nguyễn Thị Cẩm P đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bà P luôn vắng mặt không lý do và không cung cấp bất cứ tài liệu, chứng cứ nào có liên quan đến vụ án, không có yêu cầu phản tố cũng như không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 – Tây Ninh tham gia phiên tòa sơ thẩm phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo pháp luật tố tụng và những người tham gia tố tụng trong vụ án đã chấp hành pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.

Về nội dung: Xét, việc thỏa thuận ký kết Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) ngày 20/7/2021 giữa Ngân hàng TMCP S và bà Nguyễn Thị Cẩm P trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, các chủ thể tham gia ký kết có đầy đủ năng lực và trách nhiệm hành vi dân sự. Hình thức và nội dung của hợp đồng không trái đạo đức xã hội, không vi phạm các quy định của pháp luật nên đây là hợp đồng hợp pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên.

Thực hiện hợp đồng, Ngân hàng đã cấp cho bà P thẻ tín dụng Family với hạn mức sử dụng là 40.000.000 đồng. Đến tháng 9/2023, bà P đăng ký vay tiêu dùng trên ứng dụng S1 với số tiền giải ngân là 20.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân. Quá trình thực hiện Hợp đồng, bà P đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần yêu cầu nhưng bà P vẫn chưa thực hiện nghĩa vụ hoàn trả nợ gốc và lãi, vi phạm các Điều khoản và Điều kiện đã qui định tại Hợp đồng. Do đó, căn cứ vào các Điều 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015, Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, qua thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về thủ tục tố tụng:

    1. Ngân hàng Thương mại Cổ phần S khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị Cẩm P phải thanh toán số nợ do sử dụng thẻ tín dụng theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng được ký kết ngày 20/7/2021, nên xác định quan hệ pháp luật tố tụng là “Tranh chấp Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng”, bà P có địa chỉ cư trú tại ấp F T, xã B, tỉnh Tây Ninh. Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Tây Ninh.

    2. Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Huỳnh Trung T có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt, riêng bị đơn bà Nguyễn Thị Cẩm P đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

  2. Về nội dung tranh chấp:

    1. Xét Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng ngày 20/7/2021 giữa Ngân hàng Thương Mại Cổ phần S và bà Nguyễn Thị Cẩm P được ký kết trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, các chủ thể tham gia ký kết có đầy đủ năng lực và trách nhiệm hành vi dân sự. Hình thức và nội dung của Hợp đồng không trái đạo đức xã hội, không vi phạm các quy định của pháp luật nên đây là hợp đồng hợp pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên.

    2. Xét yêu cầu của Ngân hàng về việc yêu cầu bà P phải thanh toán số tiền gốc và lãi tạm tính đến ngày 16/12/2025 là 49.486.937 đồng, thấy rằng: Sau khi được cấp thẻ tín dụng F với hạn mức sử dụng là 40.000.000 đồng và đăng ký vay tiêu dùng trên ứng dụng S1 với số tiền giải ngân là 20.000.000 đồng, bà P đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán quy định tại Điều 18 của Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng. Do đó, Ngân hàng chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn là phù hợp với quy định tại Điều 24 của Điều khoản. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà P vắng mặt và không cung cấp cho Tòa án bất cứ tài liệu, chứng cứ nào có liên quan đến vụ án hoặc văn bản phản đối yêu cầu khởi kiện và chứng cứ do Ngân hàng cung cấp. Căn cứ Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015, yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận, buộc bà P có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng số tiền gốc và lãi tạm tính đến ngày đến ngày 16/12/2025 là 49.486.937 đồng.

    3. Xét yêu cầu của Ngân hàng về việc buộc bà P phải trả tiền lãi phát sinh từ ngày 17/12/2025 theo thỏa thuận tại Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng: Căn cứ Điều 91, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, khoản 1, 2 Điều 13, khoản 2 Điều 14 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019, yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp nên được chấp nhận.

  3. Về án phí: Buộc bà Nguyễn Thị Cẩm P phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm là 2.474.347 đồng. Ngân hàng được hoàn trả tiền tạm ứng án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 các Điều 35, Điều 39, Điều 147; khoản 3, Điều 228 và Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 91, Điều 95, Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; khoản 1, 2 Điều 13, khoản 2 Điều 14 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019.

Căn cứ Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S về việc “Tranh chấp Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng” đối với bà Nguyễn Thị Cẩm P.

  2. Buộc bà Nguyễn Thị Cẩm P có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền gốc và lãi tạm tính đến ngày đến ngày 16/12/2025 là 49.486.937 đồng (Bốn mươi chín triệu, bốn trăm tám mươi sáu nghìn, chín trăm ba mươi bảy đồng), trong đó: Nợ gốc là 34.904.226 đồng, nợ lãi là 14.582.711 đồng.

    Kể từ ngày 17/12/2025 cho đến khi thực hiện xong toàn bộ nghĩa vụ thanh toán, bà Nguyễn Thị Cẩm P còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng; Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng ngày 20/7/2021 cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.

  3. Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bà Nguyễn Thị Cẩm P phải chịu 2.474.347 đồng. Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S 1.057.651 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007946 ngày 16/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.

  4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

  5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Các Hội thẩm nhân dânThẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
Phạm Văn Tám – Đặng Thị Bích LoanCao Thiên Trang

5

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND Khu vực 4 – Tây Ninh;
  • - Phòng THADS Khu vực 4 – Tây Ninh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cao Thiên Trang

6

7

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 58/2025/DS-ST ngày 17/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – TÂY NINH về tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng

  • Số bản án: 58/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/12/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP S "tranh chấp hợp đồng tín dụng" Nguyễn Thị Cẩm P
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger