Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 15–AN GIANG

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 58/2025/HS-ST

Ngày 12 tháng 11 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15-AN GIANG, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Sang

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Phạm Sơn Điền
  2. Ông Nguyễn Quốc Dũng

Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Tấn Bửu – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 15 - An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 - An Giang tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Hoài Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 15 - An Giang, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 47/2025/TLST-HS ngày 22 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2025, đối với bị cáo:

Trần Văn Tuấn A, sinh ngày 10/6/1996 tại T, tỉnh An Giang; nơi cư trú: khóm L, phường L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn P, sinh năm 1976 bà Phạm Thị L, sinh năm 1978; anh, chị, em ruột có 02 người, bị cáo là người thứ nhất; vợ Đặng Thị Thu N, sinh năm 1993; con có 03 người, lớn nhất sinh năm 2017, nhỏ nhất sinh năm 2023.

Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực T thuộc Trại tạm giam số 1 - Công an tỉnh A (nay là P1 trại tạm giam Al (cơ sở 2) thuộc Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh A) từ ngày 07/8/2025 đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Lâm Văn P2, sinh năm 1999; nơi cư trú: khóm L, phường L, tỉnh An Giang (có mặt).

Người làm chứng:

  • - Ông Hình Văn S, sinh năm 1983 (vắng mặt);
  • - Bà Đặng Thị Thu N, sinh năm 1993 (có mặt);
  • - Ông Trần Văn L1, sinh năm 1988 (vắng mặt);
  • - Bà Trần Thị H, sinh năm 1971 (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do mâu thuẫn từ việc vay mượn tiền, khoảng 21 giờ ngày 06/6/2025, Trần Văn Tuấn A hẹn Lâm Văn P2 gặp nhau trên cầu T, ấp L, xã L, thị xã T (nay là ấp L, xã T), tỉnh An Giang để nói chuyện, giải quyết mâu thuẫn. Tuấn A mang theo 02 cây dao; 01 cây dao cán vàng (loại dao Thái Lan) cất giấu trong người và 01 cây dao bằng kim loại, lưỡi dài 42 cm, cán dài 18 cm để trên ba ga giữa của xe mô tô 67H2-7858, điều khiển xe này chạy đi thì gặp Hình Văn S, rủ S đi cùng, nghĩ là đi chơi, S đồng ý. Tuấn A chở S, trên đường đi, gần đến cầu T, Tuấn A nói, S mới biết Tuấn A và P2 hẹn đánh nhau trên cầu, S không nói gì, tiếp tục cùng đi với Tuấn A. Đến địa điểm hẹn, Tuấn A đậu xe trên cầu đợi P2, S đứng gần đó. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, P2 điều khiển xe mô tô biển số 67AH-102.74 đến, còn ngồi trên xe chưa kịp bước xuống, Tuấn A liền lấy cây dao để trên ba ga xe cầm ở tay phải đi đến chém ngang 01 nhát từ phải qua trái trúng vào lưng và tay trái của P2, làm lưỡi dao rơi khỏi cán. P2 bước xuống xe, Tuấn A ném bỏ cán dao, xông đến lấy mũ bảo hiểm, trọng lượng 480 gam trên xe của P2, cầm ở tay phải quơ đánh P2 nhiều cái vào vùng đầu. Sang can ngăn nhưng Tuấn A vẫn tiếp tục cầm mũ bảo hiểm xông đến đánh P2 nhiều cái vào vùng đầu. Thấy đầu P2 chảy nhiều máu, P2 quỳ xuống xin tha, Tuấn A không đánh nữa, trả lại mũ bảo hiểm cho P2, lấy cây dao cất giấu trong người ném bỏ xuống sông, sau đó nhặt lại lưỡi dao, điều khiển xe chở S đi về; còn P2 đến Bệnh viện điều trị thương tích. Ngày 07/6/2025, Phúc trình báo Công an, giao nộp mũ bảo hiểm, có đơn yêu cầu khởi tố. Mời làm việc, Tuấn A thừa nhận thực hiện hành vi nêu trên, giao nộp dao; xe mô tô 67H2-7858 là của Tuấn A, sau khi sự việc xảy ra, đã bán xe này cho người nam (không rõ họ tên, lai lịch) để điều trị bệnh cho con. S khai, được Tuấn A rủ đi cùng, do trời tối, không thấy dao Tuấn A để trên ba ga xe, nghĩ là đi chơi nên đồng ý; đến khi Tuấn A nói, S mới biết Tuấn A và P2 hẹn đánh nhau, S vẫn đi cùng Tuấn A để can ngăn, không tham gia đánh nhau.

Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 305/KLTTCT-TTPY ngày 20/6/2025 của Trung tâm pháp y tỉnh A:

Họ và tên: Lâm Văn P2, sinh năm 1999, khóm L, phường L, thị xã T (nay là khóm L, phường L), tỉnh An Giang).

Các kết quả chính: Sẹo vành tai trái (3.2 x 0,1) cm, sẹo hồng, bờ sắc, tỷ lệ 02%. Sẹo dưới nắp bình tai trái (0.5 x 0.1) cm, tỷ lệ 01%. Sây sát da dạng thẳng vùng thắt lưng trái không liên tục để lại sẹo (1.8 x 0.5)cm và (03 x 0.2) cm, tỷ lệ 02 %. Sẹo mặt lưng đốt 1 ngón IV bàn tay trái (01 x 0.1) cm, sẹo lồi, hồng, bờ sắc, tỷ lệ 01 %. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tất cả thương tích trên gây nên của Lâm Văn P2 tại thời điểm giám định (áp dụng phương pháp cộng theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y) là 06%. Cơ chế hình thành thương tích trên do vật sắc gây nên.

Kết luận giám định số 3210/ KL-KTHS ngày 15/07/2025 của Phân viện khoa học hình sự - Bộ C tại thành phố Hồ Chí Minh:

  • - Mẫu vật gửi giám định thuộc danh mục dao có tính sát thương cao theo Phụ lục 5 (Ban hành kèm theo Thông tư số 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ trưởng Bộ C).

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:

  • - Thu giữ do Trần Văn Tuấn A giao nộp 01 lưỡi dao bằng kim loại dài 42 cm và 01 cán dao bằng kim loại dài 18 cm;
  • - Thu giữ do Lâm Văn P2 giao nộp 01 mũ bảo hiểm màu bạc bị bể 01 lỗ đường kính 03 cm, trọng lượng 480 gam; 01 áo thun màu trắng trên áo có dòng chữ JULIDO, áo thun tay ngắn;

Ngày 04/8/2025, ngày 19/9/2025, lần lượt Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh A khởi tố, tạm giam và khởi tố bổ sung đối với Trần Văn Tuấn A, về các tội “Cố ý gây thương tích” và “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” để điều tra, xử lý. Ngày 16/10/2025, bị hại Lâm Văn P2 có đơn rút yêu cầu khởi tố đối với Trần Văn Tuấn A.

Cáo trạng số 01/CT-VKSTC ngày 22 tháng 10 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 – An Giang truy tố bị cáo Trần Văn Tuấn A về tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nêu; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng khai nhận phù hợp với nội dụng vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 – An Giang giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Trần Văn Tuấn A về tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 304, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Trần Văn Tuấn A mức án 01 năm tù; về hình phạt bổ sung: đề nghị không áp dụng đối với bị cáo; về xử lý vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định.

Bị cáo không tranh luận và bào chữa, đồng ý với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

  • - Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh A), Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 – An Giang), Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  • - Sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Tuy nhiên, đối với những người này đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt không gây trở ngại cho việc xét xử. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về nội dung:

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn Tuấn A khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, biên bản khám nghiệm hiện trường, vật chứng, kết luận giám định, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Vào khoảng 21 giờ ngày 06/6/2025, Trần Văn Tuấn A đi cùng với Hình Văn S hẹn gặp Lâm Văn P2 trên cầu T thuộc ấp L, xã T, tỉnh An Giang để nói chuyện, giải quyết mâu thuẫn. Tại đây, khi gặp P2, Tuấn A đã dùng 01 cây dao bằng kim loại, lưỡi dài 42 cm, cán dài 18 cm đi đến chém ngang 01 nhát từ phải qua trái trúng vào lưng và tay trái của P2, làm lưỡi dao rơi khỏi cán. Tiếp theo, Tuấn A lấy mũ bảo hiểm đánh P2 nhiều cái vào vùng đầu, S can ngăn nhưng Tuấn A vẫn tiếp tục cầm mũ bảo hiểm xông đến đánh P2 nhiều cái vào vùng đầu. Thấy đầu của P2 chảy nhiều máu, Tuấn A không đánh nữa và điều khiển xe chở S đi về. Kết luận giám định tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của P2 là 06%. Kết luận giám định giám định số 3210/ KL-KTHS ngày 15/7/2025 của Phân viện khoa học hình sự - Bộ C tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận: “Mẫu vật gửi giám định thuộc danh mục dao có tính sát thương cao theo Phụ lục 5 (Ban hành kèm theo Thông tư số 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ trưởng Bộ C)”

Như vậy, có đủ cơ sở xác định bị cáo Trần Văn Tuấn A đã có hành vi sử dụng dao có tính sát thương cao là vũ khí quân dụng để thực hiện hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của Lâm Văn P2. Hành vi phạm tội của bị cáo đã vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, tội phạm và hình phạt được quy định:

“Điều 304 quy định: Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự.

1. Người nào chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 07 năm.

2. ...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm.”

Do đó, Cáo trạng số 01/CT-VKSKV15 ngày 22 tháng 10 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 – An Giang truy tố hành vi phạm tội của bị cáo về tội danh và điều luật viện dẫn là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo Trần Văn Tuấn A là người có năng lực trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức, điều khiển hành vi của mình, bị cáo biết rõ hành vi sử dụng vũ khí quân dụng gây thương tích cho người khác là vi phạm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chế độ quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng của Nhà nước mà còn làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự và an toàn xã hội tại địa phương. Do vậy, cần xử lý nghiêm minh với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm mục đích răn đe, phòng ngừa chung.

  • - Tình tiết tăng nặng: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  • - Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, thể hiện sự ăn năn hối cải, trình độ học vấn thấp nên khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo nhận thức pháp luật có phần hạn chế về chế độ quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng của Nhà nước, bị cáo cũng đã tác động gia đình khắc phục một phần do hậu quả tội phạm gây ra, bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có cân nhắc, xem xét giảm nhẹ một phần khi lượng hình cho bị cáo.

Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, trên cơ sở đánh giá nội dung vụ án, nhân thân và hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, xét đề nghị mức hình phạt chính của đại diện Viện kiểm sát khu vực 15, tỉnh An Giang đối với bị cáo là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Do đó, việc buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội trong một thời gian là cần thiết nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt và có tác dụng phòng ngừa chung.

[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 304 của Bộ luật Hình sự thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm”. Xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng:

  • - 01 cây dao dài 60cm (cán cầm dài 18cm màu đen có ba vòng kim loại màu vàng; lưỡi dao dài 42cm; bản rộng 3,5cm) bằng kim loại, đầu nhọn;
  • - 01 áo thun trắng có vết rách phía sau;
  • - 01 nón bảo hiểm màu trắng bạc bị bể.

Xét thấy, các vật chứng này là công cụ có liên quan đến việc thực hiện hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng. Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy.

[6] Về các vấn đề khác:

  • - Bị cáo Trần Văn Tuấn A đã có hành vi dùng dao và mũ bảo hiểm chém, đánh Lâm Văn P2 gây thương tích, tỷ lệ tổn thương cơ thể 06%, trong giai đoạn truy tố, Lâm Văn P2 tự nguyện rút yêu cầu khởi tố Tuấn A về hành vi cố ý gây thương tích, Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 15 – An Giang đã ra quyết định đình chỉ vụ án “Cố ý gây thương tích” là có căn cứ.
  • - Đối với Hình Văn S đi cùng với bị cáo Trần Văn Tuấn A nhưng không tham gia đánh nhau, chỉ can ngăn, Cơ quan điều tra không xem xét, xử lý đối với S với vai trò đồng phạm là phù hợp.

[7] Xét quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa về đánh giá tính chất, mức độ, nhân thân, hậu quả của hành vi phạm tội phù hợp với nội dung vụ án nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8] Về án phí: bị cáo Trần Văn Tuấn A phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn Tuấn A phạm tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”.

    Căn cứ khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Xử phạt: Bị cáo Trần Văn Tuấn A 01 (một) năm tù.

    Thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày 07/8/2025.

  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy:
    • - 01 (một) cây dao dài 60cm (cán cầm dài 18cm màu đen có ba vòng kim loại màu vàng; lưỡi dao dài 42cm; bản rộng 3,5cm) bằng kim loại, đầu nhọn;
    • - 01 (một) áo thun trắng có vết rách phía sau;
    • - 01 (một) nón bảo hiểm màu trắng bạc bị bể.

    (Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 06/11/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh A với Phòng thi hành án dân sự Khu vực 15 – An Giang).

  3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

    Bị cáo Trần Văn Tuấn A phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

    Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - CAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND khu vực 15-An Giang;
  • - Phòng THADS khu vực 15-An Giang;
  • - Phân trại tạm giam An Phú (cơ sở 2);
  • - CAND xã, phường;
  • - Bộ phận THA Tòa án;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: hồ sơ vụ án, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Minh Sang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 58/2025/HS-ST ngày 12/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15–AN GIANG, TỈNH AN GIANG về hình sự - sử dụng trái phép vũ khí quân dụng

  • Số bản án: 58/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15–AN GIANG, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn Tuấn Anh phạm tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”. Căn cứ khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt: Bị cáo Trần Văn Tuấn Anh 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày 07/8/2025.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger