|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 58/2025/HS-ST Ngày 27-6-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Mai Lan
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Chu Quốc Đạt
- Bà Ngô Thị Mai
Thư ký phiên tòa: Ông Hà Quý Đôn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Hiên - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 58/2025/TLST-HS ngày 16 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2025/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 6 năm 2025 đối với:
- Bị cáo: Đồng Quang T, sinh năm 1986; Tên gọi khác: Không. Nơi cư trú: Thôn H, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đồng Quang H và bà Vũ Thị L có vợ Trương Thị T1 và có 01 con.
Tiền sự, tiền sự: Không.
Nhân thân: Tại Bản án số 63/2023/HSST ngày 06/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang xử phạt Đồng Quang T 03 năm tù về tội “Giả mạo trong công tác” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm, tính từ ngày 06/7/2023 (hành vi phạm tội xảy ra vào tháng 02/2020).
Bị cáo không bị tạm giữ tạm giam, đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú theo Quyết định số 51/2025/QĐ-CĐKNCT ngày 16/6/2025 của Toà án nhân dân huyện Lạng Giang (có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Ông Ngô Văn P, sinh năm 1958, trú tại Tổ A, khu H, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.
- + Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1959.
- + Bà Trương Thị P1, sinh năm 1963.
Cùng địa chỉ: Thôn S, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- + Chị Nguyễn Thị L1, sinh năm 1984. Địa chỉ: Số A đường Đ, khu phố Đ, phường Đ, TP D, tỉnh Bình Dương.
- + Ông Đồng Văn C, sinh năm 1958. Địa chỉ: Thôn H, xã N, huyện L.
- + Ông Đồng Văn T2, sinh năm 1969. Địa chỉ: Thôn G, xã N, huyện L.
- + Ông Hà Văn D, sinh năm 1959. Địa chỉ: Thôn Đ, xã N, huyện L.
(Ông S có mặt, những người khác vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hộ gia đình ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1959 trú tại thôn S, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang được Uỷ ban nhân dân (UBND) huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số B316463, ngày 22/6/1993 đối với thửa đất số 944, tờ bản đồ số 13, diện tích 200m2, địa chỉ tại thôn S, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Ngày 09/4/2008, chị Nguyễn Thị L1, sinh năm 1984, trú tại Thôn S, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang (là con đẻ của ông S, bà P1) đăng ký kết hôn với ông Ngô Văn P, sinh năm 1958, trú tại Tổ A, khu H, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh rồi cùng sinh sống tại thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Khoảng năm 2010, chị L1 và ông P chuyển về sinh sống cùng ông S và bà P1 tại thửa đất trên. Do không có đất để xây nhà nên ông S và bà Trương Thị P1, sinh năm 1963 (vợ ông S) đã cho chị L1 diện tích 100m2 đất ở tại thửa đất này (có viết giấy bán đất thể hiện nội dung bán diện tích 100m2 đất tại thửa đất trên với số tiền 20.000.000 đồng nhưng chưa được công chứng) để chị L1, ông P xây dựng một ngôi nhà cấp 4, diện tích khoảng 40m2. Khoảng năm 2012 ông S, bà P1 chuyển vào phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương để làm ăn, sinh sống. Chị L1, ông P tiếp tục sinh sống tại thửa đất trên đến tháng 4/2015.
Ngày 07/4/2015, Toà án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh có Quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 105/2015/QĐST-HNGĐ đối với chị L1 và ông P. Sau khi ly hôn, chị L1 chuyển vào phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương sinh sống cùng ông S, bà P1. Ông P tiếp tiếp tục sinh sống tại thửa trên đến đầu năm 2016 thì chuyển về thành phố H, tỉnh Quảng Ninh sinh sống.
Khoảng tháng 9/2015, ông P đến gặp ông Đồng Văn C, sinh năm 1958, trú tại thôn H, xã N, huyện L - Cán bộ địa chính phụ trách lĩnh vực đất đai của Uỷ ban nhân dân (UBND) xã N và đưa bộ hồ sơ gồm: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bản gốc và một tờ giấy ghi số chứng minh nhân dân của Nguyễn Văn S, Trương Thị P1, Ngô Văn P, Nguyễn Thị L1 để nhờ làm thủ tục tách thửa và tặng cho quyền sử dụng đất của thửa đất số 944, tờ bản đồ số 13, diện tích 200m2 địa chỉ tại thôn S, xã N, chủ sử dụng đất là ông Nguyễn Văn S, với diện tích cho tặng là 100m2 sang cho vợ chồng ông P thì được ông C đồng ý. Sau đó ông C cầm giấy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bản gốc và một tờ giấy ghi số chứng minh nhân dân lên UBND xã N và đưa cho Đồng Quang T, sinh năm 1986, trú tại thôn H, xã N, huyện L - Cán bộ địa chính phụ trách lĩnh vực giao thông xây dựng của UBND xã N thực hiện làm các thủ tục tách thửa, chuyển quyền sử dụng đất (do ông C không biết sử dụng máy tính).
Sau đó T làm hồ sơ tách thửa gồm: Đơn đề nghị tách thửa đất, hợp thửa đất và sơ đồ dự kiến phân chia thửa đất trong trường hợp tách thửa trên máy tính, in ra rồi tự điền các thông tin của chủ sử dụng đất, nội dung đề nghị tách thửa, vẽ mô phỏng hình dạng thửa đất số 944 với tỷ lệ 1/1000 vào tờ sơ đồ dự kiến phân chia thửa đất trong trường hợp tách thửa và đo đạc lấy số liệu theo tỷ lệ từ tờ bản đồ số 13 rồi điền vào. Khi làm xong, T đã ký giả mạo chữ ký “S - Nguyễn Văn S” vào mục “Người viết đơn” tại tờ đơn đề nghị tách thửa đất, hợp thửa đất ngày 28/9/2015 và mục “Chủ sử dụng đất” của tờ “Sơ đồ dự kiến phân chia thửa đất trong trường hợp tách thửa” ngày 28/9/2015. Sau đó, T đem hồ sơ trình lãnh đạo UBND xã ký, đóng dấu xác nhận rồi mang lên Phòng tài nguyên và môi trường huyện L nộp hồ sơ.
Ngày 28/9/2015, Bộ phận một cửa của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện L tiếp nhận hồ sơ đề nghị tách thửa đất số 944, tờ bản đồ số 13 bao gồm: Đơn đề nghị tách thửa đất, hợp thửa đất và Sơ đồ dự kiến phân chia thửa đất trong trường hợp tách thửa có chữ ký “S - Nguyễn Văn S”, xác nhận của UBND xã N, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (bản gốc) do Đồng Quang T - Cán bộ địa chính phụ trách lĩnh vực giao thông xây dựng của UBND xã N bàn giao. Ngày 28/10/2015, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện L xác nhận thửa đất số 944, tờ bản đồ số 13 đủ điều kiện để tách thành thửa đất số 1326 và 1327, tờ bản đồ số 13.
Sau khi nhận kết quả từ Phòng Tài nguyên và môi trường huyện L, T làm hồ sơ đăng ký biến động đất đai, chuyển quyền sử dụng đất gồm: “Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” với nội dung ông Nguyễn Văn S, bà Trương Thị Phương T3 cho chị Nguyễn Thị L1, Ngô Văn P thửa số 1326, tờ bản đồ số 13 tại sơ đồ dự kiến đã được Phòng tài nguyên và môi trường phê duyệt ngày 28/10/2015 (UBND xã N chứng thực “Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 81/2015, quyển số: 01/TP/CC-SCT/HĐGD” ngày 25/11/2015, tuy nhiên không vào sổ chứng thực hợp đồng); Đơn đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất; Đơn đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; tờ khai lệ phí trước bạ nhà, đất; tờ khai thuế thu nhập cá nhân. Sau khi đánh máy, T in ra và chuyển toàn bộ hồ sơ trên cho ông C để ông C ký vào tại mục “Cán bộ địa chính”. Bộ hồ sơ sau đó được hoàn thiện có chữ ký của các công dân như Nguyễn Văn S, Trương Thị P1, Ngô Văn P, Nguyễn Thị L1 (chữ ký Ngô Văn P, Nguyễn Thị L1 do ông P ký, chữ ký Nguyễn Văn S và Trương Thị P1 không xác định được người ký) và xác nhận của ông Đồng Văn T2, sinh năm 1969, trú tại thôn G, xã N, huyện L - Phó chủ tịch UBND xã N.
Tiến kiểm tra thấy bộ hồ sơ trên bị thiếu: 01 “Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” và “Đơn đề nghị cấp lại, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” nên T đã in một bộ hợp đồng tặng cho rồi ký giả chữ ký “S - Nguyễn Văn S”, “P1 - Trương Thị P1”, “L1 - Nguyễn Thị L1”, “P - Ngô Văn P” và một đơn đề nghị cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rồi ký giả chữ ký “S - Nguyễn Văn S”. Sau đó T chuyển lại cho ông C để ông C ký vào mục “Cán bộ địa chính”. Bộ hồ sơ trên được trình lãnh đạo UBND xã N ký là ông Hà Văn D, sinh năm 1959, trú tại thôn Đ, xã N, huyện L - Phó chủ tịch xã. T hoàn thiện hồ sơ rồi tiếp tục chuyển lên bộ phận một cửa của UBND huyện L để thẩm định. Ngày 29/12/2015 Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CC 389486 đối với thửa đất số 1326, tờ bản đồ số 13 mang tên chị Nguyễn Thị L1, ông Ngô Văn P và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CC 389487 đối với thửa đất số 1327 tờ bản đồ số 13 mang tên ông Nguyễn Văn S, bà Trương Thị P1. T nhận kết quả tại Bộ phận một cửa của UBND huyện L rồi mang về đưa cho ông C 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên để ông C trả cho ông Ngô Văn P.
Ngày 19/6/2024, ông S phát hiện thửa đất số số 944 được tách thành 02 thửa 1326 mang tên ông P bà L1, thửa 1327 mang tên ông S bà P1 mà không được sự đồng ý của mình nên ông S đã làm đơn trình báo đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Đồng thời giao nộp 01 (một) giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CC 389486, thửa đất số 1326, tờ bản đồ số 13, đứng tên chủ sở hữu là ông Ngô Văn P và Nguyễn Thị L1 (bản gốc).
Ngày 20/6/2024 Văn phòng đăng ký đất đai huyện L giao nộp: 01 (một) Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, số 81/2015, quyền số: 01/TP/CC-SCT/HĐGD, đề ngày 25/11/2015, có chữ ký chứng thực của ông Hà Văn D - Phó chủ tịch UBND xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang; 01 (một) Đơn đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất, đề ngày 25/11/2015, có chữ ký của ông Nguyễn Văn S; 01 (một) Đơn đề nghị cấp lại, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, đề ngày 25/11/2015, có chữ ký của ông Nguyễn Văn S; 01 (một) Đơn đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, đề ngày 25/11/2015, có chữ ký của Nguyễn Thị L1; 01 (một) Đơn đề nghị tách thửa đất, hợp thửa đất và sơ đồ dự kiến phân chia, đề ngày 28/9/2015, có chữ ký của ông Nguyễn Văn S; 01 (một) Tờ khai lệ phí trước bạ nhà, đất đề ngày 25/11/2015; 01 (một) Tờ khai thuế thu nhập cá nhân đề ngày 25/11/2015; 01 (một) Giấy biên nhận hồ sơ và trả kết quả, mã số hồ sơ: TN128-232FC2B453, có chữ ký của cán bộ tiếp nhận hồ sơ là Đồng Quang T và một số tài liệu khác.
Ngày 29/6/2024 ông Ngô Văn P giao nộp 01 (một) giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CC 389487, thửa đất số 1327, tờ bản đồ số 13, đứng tên chủ sở hữu là ông Nguyễn Văn S và Trương Thị P1 (bản gốc); 01 (một) giấy bán đất bản viết tay (bản gốc).
Ngày 26/7/2024 Chi Cục thuế khu vực L2 giao nộp: 01 (một) Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, số 81/2015, quyền số: 01/TP/CC-SCT/HĐGD, đề ngày 25/11/2015, có chữ ký chứng thực của ông Đồng Văn T2 - Phó chủ tịch UBND xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang; 01 (hai) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số B 316463 của ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1959, trú tại: Thôn S, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang, bản chứng thực sao y bản chính có chữ ký của ông Đồng Văn T2 - Phó chủ tịch UBND xã N; 01 (một) Giấy khai sinh bản sao của Nguyễn Thị L1, sinh năm 1984, ở thôn S, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang, đề ngày 16/9/2015, có chữ ký của ông Đồng Văn T2 - Phó chủ tịch UBND xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang; 01 (một) Giấy chứng nhận kết hôn, bản chứng thực bản sao đúng với bản chính ngày 25/11/2015, chữ ký của ông Đồng Văn T2 - Phó chủ tịch UBND xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang và một số tài liệu khác.
Ngày 16/09/2024 Phòng K - Công an tỉnh B có Bản kết luận giám định số: 1983KL-KTHS, kết luận:
“1. Hình dấu tròn có nội dung U.B.N.D xã N"trên các tài liệu gồm: Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất; Đơn đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất; Đơn đề nghị cấp lại, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất; Đơn đăng ký cấp giấy chứng chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; Sơ đồ dự kiến phân chia thửa đất trong trường hợp tách thửa; Giấy CNQSDĐ số B 316463 (bản chứng thực); Giấy khai sinh (bản sao); Giấy chứng nhận kết hôn (bản chứng thực) so với hình dấu tròn có cùng nội dung trên các tài liệu là do cùng một con dấu đóng ra.
2. Hình dấu chức danh có nội dung KT. Chủ tịch - Phó Chủ tịch - Hà Văn D" trên các tài liệu gồm: Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất do ông Hà Văn D chứng thực; Đơn đề nghị cấp lại, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất; Sơ đồ dự kiến phân chia thửa đất trong trường hợp tách thửa, so với hình dấu chức danh có cùng nội dung trên tài liệu mẫu là do cùng một con dấu đóng ra.
3. Hình dấu chức danh có nội dung KT. Chủ tịch - Phó Chủ tịch - Đ"trên các tài liệu gồm: Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất do ông Đồng Văn T2 chứng thực; Đơn đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất; Đơn đăng ký cấp giấy chứng chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; Giấy CNQSDĐ số B 316463 (bản chứng thực); Giấy khai sinh (bản sao); Giấy chứng nhận kết hôn (bản chứng thực), so với hình dấu chức danh có cùng nội dung trên tài liệu mẫu là không phải do cùng một con dấu đóng ra.
4. Chữ ký dạng chữ viết, chữ viết có nội dung S - Nguyễn Văn S"trên các tài liệu cần giám định gồm: Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất; Đơn đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất; Đơn đề nghị cấp lại, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất, Đơn đề nghị tách thửa, hợp thửa đất; Tờ khai thuế thu thập cá nhân, so với chữ ký, chữ viết của Nguyễn Văn S trên các tài liệu mẫu là không phải do cùng một người ký, viết ra.
- Chữ ký dạng chữ viết, chữ viết có nội dung P1 - Trương Thị P1"trên các tài liệu cần giám định gồm: Hai “Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” so với chữ ký, chữ viết của Trương Thị P1 trên các tài liệu mẫu là không phải do cùng một người ký, viết ra.
- Chữ ký dạng chữ viết, chữ viết có nội dung L1 - Nguyễn Thị L1"trong các tài liệu gồm: Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất; Đơn đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất; Đơn đề nghị cấp lại, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất do ông Hà Văn D chứng thực, so với chữ ký, chữ viết của Nguyễn Thị L1 trên các tài liệu mẫu là không phải do cùng một người ký, viết ra.
- Phòng K không kết luận chữ ký dạng chữ viết, chữ viết có nội dung L1 - Nguyễn Thị L1"trên tài liệu gồm: Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất do ông Đồng Văn T2 chứng thực; Đơn đăng ký cấp giấy chứng chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; Tờ khai lệ phí trước bạ nhà đất, so với chữ ký, chữ viết của Nguyễn Thị L1 trên các tài liệu mẫu do xuất hiện các đặc điểm giống nhau, khác nhau không giải thích được.
- Chữ ký dạng chữ viết, chữ viết có nội dung Phụng - Ngô Văn P"trên tài liệu: Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất do ông Hà Văn D chứng thực, so với chữ ký, chữ viết của Ngô Văn P trên các tài liệu mẫu là không phải do cùng một người ký, viết ra.
- Phòng K không kết luận giám định chữ ký dạng chữ viết, chữ viết có nội dung Phụng - Ngô Văn P"trên tài liệu: Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất do ông Đồng Văn T2 chứng thực, so với chữ ký, chữ viết của Ngô Văn P trên các tài liệu mẫu do xuất hiện các đặc điểm giống nhau, khác nhau không giải thích được.
- Phòng K không kết luận giám định chữ ký, chữ viết mang tên Nguyễn Văn S, Trương Thị P1, Nguyễn Thị L1, Ngô Văn P trên các tài liệu gồm: Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất; Đơn đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất; Đơn đề nghị cấp lại, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất; Đơn đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; Đơn đề nghị tách thửa đất, hợp thửa đất; Sơ đồ dự kiến phân chia thửa đất trong trường hợp tách thửa; Tờ khai lệ phí trước bạ nhà, đất; Tờ khai thuế thu nhập cá nhân, có phải do Hà Văn D, Đồng Quang T, Đồng Văn T2, Đồng Văn C ký, viết ra không do không đủ đặc điểm để truy nguyên.
5. Chữ ký mang tên Đồng Văn T2 trên các tài liệu gồm: Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất do ông Đồng Văn T2 chứng thực; Đơn đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất; Đơn đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất; Giấy khai sinh của Nguyễn Thị L1 (bản sao); Giấy CNQSDĐ số B 316463 (bản chứng thực); Giấy chứng nhận kết hôn (bản chứng thực), so với chữ ký của Đồng Văn T2 trên các tài liệu là do cùng một người ký ra.
- Chữ ký mang tên Hà Văn D trên các tài liệu gồm: Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất do ông Hà Văn D chứng thực; Đơn đề nghị cấp lại, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; Sơ đồ dự kiến phân chia thửa đất trong trường hợp tách thửa, so với chữ ký của Hà Văn D trên các tài liệu mẫu là do cùng một người ký ra.
- Chữ viết có nội dung Đ"trên các tài liệu gồm: Đơn đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất; Đơn đề nghị cấp lại, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; Đơn đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, so với chữ viết của Đồng Văn C trên các tài liệu mẫu là do cùng một người viết ra.
- Chữ ký mang tên Đồng Văn C dưới mục Công chức địa chính"trên các tài liệu gồm: Đơn đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất; Đơn đề nghị cấp lại, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; Đơn đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, so với chữ ký mang tên Đồng Văn C trên các tài liệu mẫu là không phải do cùng một người ký ra.
- Chữ ký mang tên Đồng Quang T trên tài liệu “Giấy biên nhận hồ sơ và trả kết quả” so với chữ ký cùng dạng, chữ viết của Đồng Quang T trên tài liệu mẫu là do cùng một người ký ra.
6. Chữ viết tại mục Lời chứng của UBND xã N"trên các tài liệu “Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất”; chữ viết mực màu xanh tại mục I. Phần kê khai của người đăng ký"trên tài liệu “Đơn đề nghị cấp lại, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất”; chữ viết tại mục I - Kê khai của người sử dụng đất'trên tài liệu “Đơn đề nghị tách thửa đất, hợp thửa đất”; chữ viết trên tài liệu “Sơ đồ dự kiến phân chia thửa đất trong trường hợp tách thửa” - trừ chữ ký, chữ viết mang tên Nguyễn Văn S dưới mục Chủ sử dụng đất"và chữ viết mực màu xanh tại mục Ngày... tháng...," so với chữ viết của Đồng Quang T trên các tài liệu mẫu là do cùng một người viết ra.
- Phòng K không kết luận giám định chữ viết tên các hình dấu có nội dung “chứng thực bản sao đúng với bản chính” trên các tài liệu Giấy CNQSDĐ số B 316463 (bản chứng thực); Giấy chứng nhận kết hôn (bản chứng thực), so với chữ viết của Đồng Quang T trên các tài liệu mẫu do không đủ đặc điểm để truy nguyên."
Ngày 01/11/2024 V Bộ C1 có Bản kết luận giám định số: 7893/KL-KTHS, kết luận:
“1. Người có mẫu chữ ký, chữ viết đứng tên Đồng Quang T trên các mẫu so sánh ký, viết ra các chữ ký, chữ viết: S, Nguyễn Văn S" P1, Trương Thị P1,"L1, Nguyễn Thị L1,"P, Ngô Văn P"trên các tài liệu gồm: “Đơn đề nghị tách thửa đất, hợp thửa đất ngày 28/9/2015”; “Sơ đồ dự kiến phân chia thửa đất trong trường hợp tách thửa ngày 28/9/2015”; “Đơn đề nghị cấp lại, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ngày 25/11/2015” và “Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 81/2015, quyển số: 01/TP/CC-SCT/HĐGD ngày 25/11/2015, do ông Hà Văn D ký chứng thực”
2. Người có mẫu chữ ký, chữ viết đứng tên Ngô Văn P trên các mẫu so sánh ký, viết ra các chữ ký, chữ viết: Phụng, Ngô Văn P”; L1, Nguyễn Thị L1” trên các tài liệu gồm: “Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 81/2015, quyển số: 01/TP/CC-SCT/HĐGD ngày 25/11/2015, do ông Đồng Văn T2 ký chứng thực; “Đơn đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ngày 25/11/2015” và “Tờ khai lệ phí trước bạ nhà, đất ngày 25/11/2015”.
3. Những người có mẫu chữ ký, chữ viết đứng tên: Nguyễn Thị L1, Ngô Văn P, Đồng Quang T, Đồng Văn C trên các mẫu so sánh không ký, viết ra các chữ ký, chữ viết: P1, Trương Thị P1"trên tài liệu “Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” và S, Nguyễn Văn S"trên các tài liệu gồm: “Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất do ông Đồng Văn T2 ký chứng thực; Đơn đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất”.
Ngày 11/11/2024 V Bộ C1 có Bản kết luận giám định số: 7894/KL-KTHS, kết luận:
“5.1. Chữ viết phần nội dung từ dòng chữ viết thứ 1 đến dòng chữ viết thứ 13 tính từ trên xuống và chữ viết, chữ ký đứng tên Nguyễn Văn S tại mục Người bán trên “Giấy bán đất” so với chữ viết, chữ ký của Nguyễn Văn S trên các mẫu so sánh là do cùng một người viết, ký ra.
5.2. Chữ ký, chữ viết đứng tên Trương Thị P1 trên “Giấy bán đất” so với chữ ký, chữ viết của Trương Thị P1 trên các mẫu so sánh là do cùng một người ký, viết ra.
5.3. Chữ ký, chữ viết đứng tên Nguyễn Thị L1 trên “Giấy bán đất” so với chữ ký, chữ viết của Nguyễn Thị L1 trên các mẫu so sánh là do cùng một người ký, viết ra.
5.4. Chữ viết đứng tên Ngô Văn P trên“Giấy bán đất” so với chữ viết, chữ ký của Ngô Văn P trên các mẫu so sánh là do cùng một người viết, ký ra.
5.5. Không đủ cơ sở kết luận chữ ký đứng tên Ngô Văn P trên “Giấy bán đất” so với chữ ký của Ngô Văn P trên các mẫu so sánh có phải do cùng một người ký ra hay không do khác dạng.
5.6. Chữ ký, chữ viết đứng tên Nguyễn Văn D1 trên “Giấy bán đất” so với chữ ký, chữ viết của Nguyễn Văn D1 trên các mẫu so sánh là do cùng một người ký, viết ra.
5.7. Chữ ký đứng tên Đồng Văn C dưới mục Công chức địa chính"trên các tài liệu gồm: Đơn đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; Đơn đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất; Đơn đề nghị cấp lại, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, so với chữ ký đứng tên Đồng Văn C trên các mẫu so sánh là do cùng một người ký ra.”
Cáo trạng số 67/CT-VKS ngày 16 tháng 6 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang đã truy tố bị cáo Đồng Quang T về tội "Giả mạo trong công tác", quy định tại điểm b khoản 1 Điều 284 Bộ luật Hình sự năm 1999.
Tại phiên toà:
Bị cáo Đồng Quang T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố đã nêu.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn S giữ nguyên ý kiến trình bày trong quá trình điều tra và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan khác đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang phát biểu lời luận tội vẫn giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (viết tắt là HĐXX):
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 284 Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Đồng Quang T từ 01 năm đến 01 năm 02 tháng tù về tội "Giả mạo trong công tác". Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Về án phí, quyền kháng cáo: Đề nghị tuyên theo quy định pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo từng là công chức, đã hai lần vấp ngã, bị cáo vô cùng ân hận, mong HĐXX cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để sớm được trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, điều tra viên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng các quy định về thẩm quyền, trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, xác định các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[1.2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Tuy nhiên, những người này đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên HĐXX quyết định tiếp tục xét xử vụ án là phù hợp với quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Về hành vi của bị cáo theo Cáo trạng truy tố: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, kết luận giám định, phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Xét thấy đã có đủ cơ sở để kết luận: Đồng Quang T là cán bộ địa chính phụ trách lĩnh vực giao thông xây dựng của UBND xã N (không phụ trách lĩnh vực đất đai). Khoảng tháng 09-11/2015, do nể nang, muốn làm nhanh, không muốn gọi chủ sử dụng đất lên UBND xã N để ký trực tiếp nên Đồng Quang T đã ký giả mạo chữ ký “S - Nguyễn Văn S” tại tờ “Đơn đề nghị tách thửa đất, hợp thửa đất” ngày 28/9/2015; “Sơ đồ dự kiến phân chia thửa đất trong trường hợp tách thửa” ngày 28/9/2015 và “Đơn đề nghị cấp lại, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” ngày 25/11/2015”; ký chữ “S - Nguyễn Văn S”, “P1 - Trương Thị P1”, “L1 - Nguyễn Thị L1”, “P - Ngô Văn P” trong “Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 81/2015, quyển số: 01/TP/CC-SCT/HĐGD" do ông Hà Văn D thực hiện lời chứng ngày 25/11/2015, sau đó mang trình ký Lãnh đạo hồ sơ tách thửa và chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất của hộ gia đình ông Nguyễn Văn S và được Sở Tài nguyên và Môi trường cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 1326 mang tên ông Ngô Văn P và bà Nguyễn Thị L1, thửa 1327 mang tên ông Nguyễn Văn S và bà Trương Thị P1.
Xét thấy bị cáo Đồng Quang T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi giả mạo trong công tác là vi phạm pháp luật, song bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Do hành vi phạm tội của bị cáo xảy ra trước ngày 01/1/2018 nên căn cứ Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội về việc thi hành Bộ luật hình sự, bị cáo bị truy tố, xét xử về tội “Giả mạo trong công tác” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 284 Bộ luật hình sự năm 1999 là có căn cứ, đúng pháp luật. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
[3] Về tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan nhà nước.
[4] Về nhân thân, tiền án, tiền sự của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Năm 2023, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang xử phạt 03 năm tù về tội “Giả mạo trong công tác” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm, tính từ ngày 06/7/2023 (hành vi phạm tội xảy ra vào tháng 02/2020).
Tiền án, tiền sự: Không;
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo có ông nội là liệt sỹ; tại phiên toà người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[5] Về hình phạt: Căn cứ tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng tăng nặng trách nhiệm hình sự, HĐXX thấy cần phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Đó là cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt đảm bảo mục đích giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội. Loại và mức hình phạt tù như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
Tại khoản 2 Điều 7 của Nghị quyết số 02/VBHN-TATC ngày 07/9/2022 của Toà án nhân dân tối cáo hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo quy định “2. Trường hợp người đang được hưởng án treo mà lại phát hiện trước khi được hưởng án treo họ đã thực hiện một tội phạm khác thì Tòa án quyết định hình phạt đối với tội phạm đó và không tổng hợp hình phạt với bản án cho hưởng án treo. Trong trường hợp này, người phạm tội phải đồng thời chấp hành 02 bản án và việc thi hành án do các cơ quan được giao trách nhiệm thi hành án hình sự phối hợp thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.” Bị cáo Đồng Văn T đang chấp hành thời gian thử thách của án treo tại Bản án số 63/2023/HSST ngày 06/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang. Lần xét xử này đối với hành vi bị cáo thực hiện vào năm 2015 (hành vi thực hiện trước khi được hưởng án treo), do đó, HĐXX quyết định hình phạt đối với bị cáo mà không tổng hợp hình phạt với Bản án số 63/2023/HSST ngày 06/7/2023.
[6] Về hình phạt bổ sung: HĐXX thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 284 của Bộ luật hình sự năm 1999.
[7] Các vấn đề khác:
- Đối với hành vi của ông Đồng Văn C, ông Đồng Văn T2, ông Hà Văn D: Quá trình thực hiện, các cá nhân thực hiện hành vi với lỗi vô ý, không có động cơ vụ lợi, không được hưởng lợi ích vật chất nào; toàn bộ thửa đất và tài sản trên đất vẫn nguyên hiện trạng, không có tranh chấp với ai, hiện gia đình ông S quản lý, sử dụng; ông P và chị L1 không có đề nghị gì đối với thửa đất số 1326 và đề nghị Cơ quan chức năng hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông P, chị L1 để cấp lại cho ông Nguyễn Văn S theo quy định. Như vậy, hành vi của ông C, ông T2, ông D chưa gây thiệt hại gì về tài sản cho gia đình ông S nên không cấu thành tội phạm.
- Đối với hành vi của ông Ngô Văn P: Quá trình làm việc, ông P không thừa nhận việc cung cấp hồ sơ, tài liệu cho ông Đồng Văn C để nhờ ông C làm thủ tục tách thửa, chuyển quyền sử dụng đất từ ông S, bà P1 sang tên cho ông P và chị L1. Việc ông P ký chữ “P - Ngô Văn P”, “L1 - Nguyễn Thị L1” trong bộ hồ sơ đăng ký biến động đất đai, chuyển quyền sử dụng đất là cán bộ UBND xã N yêu cầu ký hoàn thiện hồ sơ nên ông P đã ký hoàn thiện hồ sơ trên để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông P, chị L1. Trước đây ông S có bán cho ông P, chị L1 diện tích 100m2 đất của thửa đất số 944, tờ bản đồ số 13 (có giấy bán đất), sau đó có đợt UBND xã N đến nhà văn hóa thôn S1 để làm thủ tục cấp đổi lại Giấy chứng nhận cho toàn bộ nhân dân trong thôn thì vợ chồng ông S cùng ông P và L1 đã ra đó để kê khai làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất sang cho ông P và chị L1 đối với diện tích trên. Sau khi nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất 1326, tờ bản đồ số 13 và thửa đất 1327 ông P chưa thế chấp, chuyển quyền sử dụng đất cho bất kỳ cá nhân, tổ chức nào khác. Do vậy, không xem xét xử lý trách nhiệm hình sự đối với Ngô Văn P là phù hợp.
- Đối với cán bộ Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L thực hiện thẩm định hồ sơ tách thửa, đăng ký biến động đất đai, chuyển quyền sử dụng đất và trình Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng quy định tại Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính Phủ và Thông tư 23/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ T5. Những người này không biết hồ sơ tách thửa, đăng ký biến động đất đai, chuyển quyền sử dụng đất do T ký giả chữ ký của công dân. Do vậy, không có căn cứ xử lý đối với các cán bộ này.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội về việc thi hành Bộ luật hình sự; điểm b khoản 1 Điều 284 Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015.
- Kiến nghị:
- Về án phí: Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Bị cáo Đồng Quang T phải chịu 200.000 đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Xử phạt bị cáo Đồng Quang T 01 (một) năm tù về tội tội "Giả mạo trong công tác". Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Kiến nghị Chi nhánh Văn Phòng đăng ký đất đai huyện L huỷ nội dung điều chỉnh tại trang 4 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số B316463, vào sổ số 04/34 QSDĐ/QĐ04 do UBND huyện L cấp ngày 22/6/1993 cho ông Nguyễn Văn S.
Kiến nghị Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B thu hồi, huỷ 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với thửa đất số 1326, tờ bản đồ số 13, địa chỉ ở thôn S, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang, cấp ngày 29/12/2015, số vào sổ CS00622, cấp cho bà Nguyễn Thị L1, ông Ngô Văn P; số 1327, tờ bản đồ số 13, địa chỉ ở thôn S, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang, cấp ngày 29/12/2015, số vào sổ CS00623, cấp cho ông Nguyễn Văn S, bà Trương Thị P1.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Mai Lan |
Bản án số 58/2025/HS-ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG về hình sự sơ thẩm về tội giả mạo trong công tác
- Số bản án: 58/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Giả mạo trong công tác
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Đồng Quang T 01 (một) năm tù về tội tội "Giả mạo trong công tác". Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
