Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THÁP MƯỜI

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

Bản án số: 58/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 19 - 6 - 2025.
“V/v Tranh chấp nam, nữ chung
sống với nhau như vợ chồng mà
không đăng ký kết hôn và tranh
chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI, TỈNH ĐỒNG THÁP

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa:Ông Lê Văn Tinh.
Các Hội thẩm nhân dân:1. Ông Nguyễn Văn Tuấn.
2. Ông Nguyễn Thanh Minh Hiền.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Jét – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp.

Ngày 19 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 190/2025/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2025, về việc “Tranh chấp về nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn và tranh chấp về nuôi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 184/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Phan Thị N, sinh năm 1991.
  • Địa chỉ: Kv L, phường T, quận T, Tp ..
  • - Bị đơn: Nguyễn Minh T, sinh năm 1987.
  • Địa chỉ: Ấp M, xã P, huyện T, Đồng Tháp.

(Chị N có đơn xin xét xử vắng mặt, anh T có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo Đơn khởi kiện, chị Lê Thị N1 trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Nguyên trước đây vào năm 2012, anh chị có tổ chức hôn lễ tại gia đình và sinh sống như vợ chồng, nhưng do bận công việc và không am hiểu pháp luật về hôn nhân nên không thực hiện việc đăng ký kết hôn.

Thời gian đầu anh chị sống hạnh phúc, nhưng về sau hôn nhân không còn hạnh phúc nữa, anh chị thường xuyên xảy ra mâu thuẫn không thể hòa giải. Nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống hôn nhân không thể kéo dài. Hiện nay, chị N1 nhận thấy không thể tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân được nữa nên chị N1 làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Minh T.

- Về con chung: Anh chị có 01 con chung tên Nguyễn Thị Thanh N2, sinh ngày 14/7/2014, hiện đang sống chung với anh T. Khi ly hôn, chị N1 đồng ý cho anh T được quyền tiếp tục nuôi dưỡng con chung, chị N1 không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không có.

- Về nợ chung: Không có.

* Bị đơn Nguyễn Minh T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh T thống nhất với lời trình bày của chị N1. Nay, nhận thấy tình cảm không còn, anh chị không thể sống chung với nhau được nữa và đã ly thân từ năm 2020 cho đến nay nên nay anh T cũng đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị N1.

- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Thị Thanh N2, sinh ngày 14/7/2014, hiện đang sống chung với anh T. Khi ly hôn, anh T yêu cầu được quyền tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu chị N1 cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không có.

- Về nợ chung: Không có.

* Các tình tiết, sự kiện trong vụ án các bên đương sự thống nhất:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị N1 và anh T thống nhất anh chị không có đăng ký kết hôn, nay anh chị thống nhất ly hôn với nhau;

- Về con chung: Anh chị có 01 con chung tên Nguyễn Thị Thanh N2, sinh ngày 14/7/2014, hiện đang sống chung với anh T. Khi ly hôn, anh T yêu cầu được quyền tiếp tục nuôi dưỡng con chung, chị N1 không cấp dưỡng nuôi con, do anh T không yêu cầu.

- Về tài sản chung: Không có.

- Về nợ chung: Không có.

* Các tình tiết vụ án các bên đương sự không thống nhất: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật: Xét thấy, chị N1 yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T, nhưng anh chị không có đăng ký kết hôn và yêu cầu giải quyết về nuôi con. Ngoài ra, các đương sự không có yêu cầu gì khác. Do đó, căn cứ vào khoản 7 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật trong vụ án là “Tranh chấp về nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn và tranh chấp về nuôi con”.

[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: Theo quy định tại khoản 7 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì tranh chấp giữa các đương sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đồng thời, do bị đơn có địa chỉ tại xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.3] Về xét xử vắng mặt:

Chị N1 có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành phiên tòa xét xử vắng mặt chị N1 là phù hợp theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị N1 và anh T chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 2012, nhưng đến nay vẫn chưa đăng ký kết hôn. Xét thấy, chị N1 và anh T có đầy đủ điều kiện kết hôn theo quy định pháp luật, đã chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2012 nhưng đến nay vẫn không đăng ký kết hôn và nay anh chị cũng không yêu cầu Tòa án công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh chị mà yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh chị được ly hôn. Do đó, giữa anh chị không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Nay, đời sống chung giữa anh chị phát sinh mâu thuẫn nên chị N1 yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T, anh T cũng đồng ý với yêu cầu của chị N1.

Từ những căn cứ nêu trên đủ cơ sở để xác định hôn nhân giữa chị N1 và anh T đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 14 và khoản 2 Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử không công nhận chị N1 và anh T là vợ chồng.

[2.2] Về con chung: Anh chị thống nhất có 01 con chung tên Nguyễn Thị Thanh N2, sinh ngày 14/7/2014, hiện đang sống chung với anh T. Khi ly hôn, anh chị thống nhất cho anh T được quyền tiếp tục nuôi dưỡng con chung, anh T không yêu cầu chị N1 cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận này.

[2.3] Về tài sản chung: Anh chị thống nhất không có nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét giải quyết.

[2.4] Về nợ chung: Anh chị thống nhất không có nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét giải quyết.

[2.5] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:

Chị N1 phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 7 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 14, Điều 15, khoản 2 Điều 53, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Phan Thị N.
    • - Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Phan Thị N và anh Nguyễn Minh T là vợ chồng.
    • - Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Thị Thanh N2, sinh ngày 14/7/2014, hiện đang sống chung với anh T. Khi ly hôn, anh T được quyền tiếp tục nuôi dưỡng con chung, chị N không cấp dưỡng nuôi con, do anh T không yêu cầu.
    • Anh Nguyễn Minh T có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung, không ai được ngăn cản. Chị Phan Thị N được quyền thăm con, không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
    • - Về tài sản chung: Không có.
    • - Về nợ chung: Không có.
    • - Về án phí: Chị Phan Thị N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0006275 ngày 05 tháng 6 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tháp Mười. Như vậy, tiền án phí chị N đã nộp xong.
  2. Về quyền kháng cáo:
    • Anh Thiện được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị N vắng mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
    • Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND huyện Tháp Mười;
  • - THADS huyện Tháp Mười;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: VPTA & Hồ sơ vụ án. (Jét)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Văn Tinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 58/2025/HNGĐ-ST ngày 19/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp về nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn và tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 58/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn và tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không công nhận chị Phan Thị N và anh Nguyễn Minh T là vợ chồng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger