Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĂN GIANG

TỈNH HƯNG YÊN

Bản án số: 58/2025/HSST

Ngày: 17/6/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN GIANG, TỈNH HƯNG YÊN

-Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hoàng Lâm

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quốc Doanh và ông Nguyễn Quyết Thắng

Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Phương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên.

- Đại diện VKSND huyện Văn Giang tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị T - Kiểm sát viên

Ngày 17 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Giang xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 57/2025/TLST-HS ngày 02 tháng 6 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2025/QĐXXST-HS ngày 03/6/2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thành T1, sinh năm 2003. Nơi đăng ký HKTT: Bản P, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông: Nguyễn Đình T2, sinh năm: 1976 và bà Mai Thị P, sinh năm 1979. Gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ nhất. Vợ, con: Chưa có. Tiền án: Ngày 25/12/2024 bị Tòa án nhân dân huyện Văn Giang xử phạt 01 năm 9 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 năm 06 tháng (Trong vụ án này, T1 bị tạm giữ, tạm giam 122 ngày). Bị cáo bị bắt tạm giam từ này 27/3/2025, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. (có mặt)

* Bị hại:

- Công ty Cổ phần T4 GLOBAL

Địa chỉ trụ sở chính: Số A, S, Khu đô thị N, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội

Đại diện theo pháp luật: Bà Đào Thị Thu H – Chức vụ: Tổng giám đốc (vắng mặt)

Đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Đức N, sinh năm: 1994

Địa chỉ: Số C, hẻm C đường B, phường V, quận B, thành phố Hà Nội. (vắng mặt)

- Ông Đỗ Thế D, sinh năm: 1982

HKTT: Thôn B, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên

Nơi ở hiện tại: Căn hộ 207 Lake 2, E, xã P, huyện V, tỉnh Hưng Yên. (vắng mặt)

Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Tuấn A, sinh năm: 1995

Địa chỉ: Số nhà A, ngõ Đ, tổ B, phường T, quận H, thành phố Hà Nội. (vắng mặt)

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Bà Mai Thị P, sinh năm: 1979

Địa chỉ: Bản K, xã C, thành phố S, tỉnh Sơn La (Vắng mặt)

- Ông Quản Bá P1, sinh năm: 1978

Địa chỉ: Thôn L, xã Q, huyện C, thành phố Hà Nội (vắng mặt)

Đại diện theo ủy quyền: Anh Nguyễn Ngọc T3, sinh năm: 2004

Địa chỉ: Thôn L, xã Q, huyện C, thành phố Hà Nội. (vắng mặt)

- Anh Nguyễn Hữu M, sinh năm: 2005

Địa chỉ: Thôn Y, xã N, huyện Y, tỉnh Hưng Yên (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thành T1, sinh năm 2003, nơi đăng kí hộ khẩu thường trú (HKTT): Bản P, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La, đang chấp hành án treo (theo Bản án số 160/2024/HSST ngày 25/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên) và sinh sống cùng gia đình tại chỗ trọ của bạn là Nguyễn Hữu M, sinh năm 2005, HKTT: Thôn Y, xã N, huyện Y, trọ tại: Ngõ B, chợ K, phường T, quận Đ, thành phố Hà Nội chơi. Trong thời gian ở chơi với anh M, do không có tiền để chơi điện tử và tiêu sài cá nhân nên T1 nảy sinh ý định đến khu đô thị E thuộc huyện V, tỉnh Hưng Yên để trộm cắp tài sản tại các cửa hàng, vì trước đó T1 đã từng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại khu đô thị E và biết những cửa hàng kinh doanh sơ hở, để cửa hàng qua đêm không khóa cửa, không có người trông coi. Đêm ngày 18/3/2025, T1 mặc áo khoác dài tay, quần bò dài, đội mũ lưỡi trai và đeo khẩu trang (tất cả đều màu đen), thuê xe ôm chở từ thành phố Hà Nội đến gần sân bóng Edison, khu T, khu đô thị E (thuộc xã P, huyện V), rồi đi bộ vào trong khu đô thị để trộm cắp tài sản. Khoảng 00 giờ 40 phút ngày 19/3/2025, T1 đi đến cửa hàng B tại số A Marina T thuộc Công ty Cổ phần T4, quan sát thấy không có người bên trong cửa hàng. T1 dùng tay kéo cánh cửa chính của cửa hàng thì thấy cửa hàng không khóa nên đi vào bên trong tìm kiếm tài sản, T1 lấy được một chiếc máy tính bảng màu xám, nhãn hiệu Redmi, Model: 22081283G ở trên mặt bàn thu ngân, rồi giấu vào bên trong áo đang mặc, sau đó tiếp tục đi tìm cửa hàng khác để trộm cắp. Khoảng 02 giờ cùng ngày, T1 đi đến nhà hàng P3 tại số 25A Grand Marina (do ông Đỗ Thế D, sinh năm 1982, trú tại: Tòa nhà P, khu đô thị E làm chủ), quan sát thấy bên trong cửa hàng không có ai. T1 đi đến cửa phụ phía Bắc của nhà hàng, dùng tay kéo cánh cửa thì thấy cửa không khóa nên đã lén lút vào bên trong để trộm cắp tài sản. Tại quầy thu ngân, T1 lấy được 01 chiếc két thu ngân bằng kim loại màu đen, dạng hình hộp chữ nhật (đã khóa) và 01 chiếc máy tính xách tay màu đen, nhãn hiệu ASUS, mặt sau có chữ: FX506LHB-HN188W, SN: N8NRCX10Z27335F, model: FX506L, cùng với sạc pin của máy tính để trên mặt két. T1 bê chiếc két và máy tính xách tay đến khu vực đường gom gần sân bóng Edison, dùng hai tay đập chiếc két xuống đường cho bung nắp và lấy được toàn bộ số tiền có ở bên trong là 3.060.000 đồng (gồm nhiều tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng và 10.000 đồng). T1 vứt két sắt ở rìa đường rồi thuê xe taxi đi về nhà trọ của M (lúc này M không có ở nhà). T1 đã khôi phục cài đặt gốc, xóa toàn bộ dữ liệu lưu trong máy tính xách tay và máy tính bảng trộm cắp được để tránh bị phát hiện. Đến khoảng 9 giờ 30 phút cùng ngày, T1 gọi điện cho anh M, nhờ chở đi cầm cố chiếc máy tính xách tay trên. Mười hỏi nguồn gốc của chiếc máy tính xách tay thì T1 nói đây là của T1, mang đi cầm cố để lấy tiền đặt cọc xe, làm thủ tục lái xe ôm công nghệ. M đồng ý và chở T1 tới cửa hàng cầm đồ Ngọc P2, địa chỉ: số F đường L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội do ông Quản Bá P1 làm chủ, cầm cố cho anh Nguyễn Ngọc T3, sinh năm 2004, HKTT: thôn L, xã Q, huyện C, thành phố Hà Nội (là người quản lý cửa hàng) được 5.000.000 đồng, hẹn 10 ngày sau sẽ quay lại trả tiền, lấy máy tính xách tay. Khi cầm cố anh T3 yêu cầu phải cung cấp căn cước công dân, do T1 không mang nên đã nhờ M cầm cố hộ. Số tiền có được, T1 đã nạp thẻ điện tử và tiêu xài cá nhân và không chia cho M số tiền nào.

Ngày 21/3/2025, ông Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1995, HKTT: số A ngõ Đ, tổ A, phường T, quận H, thành phố Hà Nội là người đại diện theo ủy quyền của ông D và ông Trần Đức N, sinh năm 1994, HKTT: 3 hẻm B, phường V, quận B, thành phố Hà Nội là người đại diện theo ủy quyền của Công ty Cổ phần T5 trình báo sự việc mất trộm tài sản tới công an xã P. Công an xã P đã thu thập dữ liệu camera, tiến hành rà soát đối tượng và mời T1 đến làm việc. T1 đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và giao nộp: 01 chiếc máy tính bảng màu xám trộm cắp của Công ty cổ phần T4; số tiền 510.000 đồng; 01 chiếc áo khoác dài tay màu đen, bên ngoài phía sau áo có chữ “Saint Lauren”; 01 mũ lưỡi trai bằng vải màu đen, phía trước có chữ “HEART” màu trắng; 01 khẩu trang màu đen (T1 mặc khi thực hiện các hành vi trộm cắp tài sản); 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme, mặt lưng màu xanh (tài sản của T1). Đồng thời, T1 đã chỉ dẫn công an xã P đến cửa hàng cầm đồ Ngọc P2 để thu giữ lại 01 chiếc máy tính xách tay mà T1 đã cầm cố nêu trên.

Ngày 24/3/2025, Công an xã P báo cáo, bàn gia vụ việc và các bằng chứng thu giữ được đến Cơ quan CSĐT Công an tỉnh H để giải quyết theo thẩm quyền.

Ngày 25/3/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh H yêu cầu định giá tài sản đối với 01 chiếc máy tính bảng, 01 chiếc máy tính xách tay và 01 két thu ngân mà T1 đã trộm cắp tại các cửa hàng. Tại bản kết luận định giá tài sản số 11/BKL-ĐGTS ngày 28/3/2025, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng, huyện V kết luận: 01 máy tính bảng màu xám, nhãn hiệu Redmi, model: 22081283G, dung lượng 64GB mua năm 2023 có giá trị 2.000.000 đồng; 01 chiếc máy tính xách tay màu đen, nhãn hiệu ASUS, model FX506LHB-HN188W kèm thiết bị sạc trị giá là 13.736.000 đồng; 01 két thu ngân nhãn hiệu ARICH B350 mua năm 2023 có giá trị là 800.000 đồng.

Quá trình điều tra, xác định được số tiền 510.000 đồng thu giữ của T1 là tiền có được do cầm cố chiếc máy tính xách tay của ông D. Ngày 21/4/2025, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại số tiền 510.000 đồng và 01 chiếc máy tính xách tay, màu đen, nhãn hiệu ASUS, model: FX506L, mặt sau có chữ FX506LHB-HN188W, SN: N8NRCX10Z27335F (đã qua sử dụng) cho ông Đỗ Thế D (qua người được ủy quyền là ông Nguyễn Tuấn A); trả lại 01 máy tính bảng, nhãn hiệu Redmi, model: 22081283G, màu xám (đã qua sử dụng) cho chị Công ty cổ phần T4 (qua người được ủy quyền là ông Trần Đức N).

Về trách nhiệm dân sự: Ngày 21/4/2025 và ngày 25/4/2025, bà Mai Thị P, sinh năm 1979, HKTT: Thôn Đ, xã T, huyện V, tỉnh Yên Bái là mẹ của T1 được T1 tác động, đã đến xin lỗi và bồi thường cho ông Đỗ Thế D số tiền 3.000.000 đồng, bồi thường cho ông Quản Bá P1 số tiền 5.000.000 đồng. Ông D, ông P1 đã nhận được tiền, không có yêu cầu gì khác và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bà P không yêu cầu T1 phải trả lại số tiền trên.

Các đồ vật, tài liệu đã thu giữ chưa được xử lý gồm: 01 áo khoác dài tay, 01 mũ lưỡi trai, 01 khẩu trang và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme C5 thu của T1 đều đang được quản lí tại kho vật chứng của Công an tỉnh H.

Quá trình điều tra, Nguyễn Thành T1 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.

Tại bản Cáo trạng số 59/CT-VKSVG ngày 02/6/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Văn Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Thành Trung về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

  • * Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã nêu, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, ăn năn hối cải, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
  • * Đại diện VKSND huyện Văn Giang giữ nguyên quan điểm đã truy tố như nội dung bản Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử:
  • - Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52, Điều 53; Điều 55; khoản 2 Điều 56; khoản 5 Điều 65; Điều 38 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành T1 phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
  • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành T1 từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù. Tổng hợp hình phạt 01 năm 09 tháng tù tại Bản án số 160/2024/HSST ngày 25/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên, trừ 122 ngày tạm giữ, tạm giam, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù từ 03 năm 04 tháng 28 ngày đến 03 năm 07 tháng 28 ngày. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 27/03/2025.
  • - Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:
  • + Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại là Công ty Cổ phần T4 và ông Đỗ Thế D đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm. Ông Tuấn A là đại diện theo ủy quyền của ông D đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
  • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Quản Bá P1 đã nhận số tiền 5.000.000 đồng do mẹ đẻ bị cáo T1 là bà Mai Thị P bồi thường thay cho bị cáo. Ông P1 đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bà Mai Thị P không yêu cầu bị cáo phải trả lại bà số tiền 5.000.000₫ nêu trên.
  • + Về xử lý vật chứng, đề nghị HĐXX:
  • Tịch thu cho tiêu hủy: 01 chiếc áo khoác dài tay màu đen, bên ngoài phía sau áo có chữ “Saint Lauren”; 01 mũ lưỡi trai bằng vải màu đen, phía trước có chữ “HEART” màu trắng; 01 khẩu trang màu đen (T1 mặc khi thực hiện các hành vi trộm cắp tài sản”.
  • Trả lại bị cáo T1 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme, mặt lưng màu xanh.
  • - Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng:

- Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Giang trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền và trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không khiếu nại gì đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Hành vi tố tụng, Quyết định tố tụng, người tiến hành tố tụng đều đúng quy định của pháp luật.

- Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Bị cáo và đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử xét xử vụ án vắng mặt họ. Xét thấy bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án nên HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, tiếp tục xét xử vụ án.

[2]. Về hành vi phạm tội:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp khách quan với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với đơn trình báo, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, biên bản kiểm tra, xác định nơi xảy ra vụ việc, sơ đồ hiện trường, kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được Cơ quan điều tra thu thập theo quy định của pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử đã đủ cơ sở kết luận: Rạng sáng ngày 19/3/2025, Nguyễn Thành T1 đã lợi dụng sơ hở của các chủ cửa hàng kinh doanh tại khu đô thị E, xã P, huyện V, tỉnh Hưng Yên, không khóa cửa quán nên đã lén lút thực hiện hành vi trộm cắp tại cửa hàng B1 thuộc Công ty Cổ phần T4 01 máy tính bảng màu xám, nhãn hiệu Redmi, model 22081283G, dung lượng 64Gb, trị giá 2.000.000 đồng; trộm cắp tại cửa hàng P4 do ông Đỗ Thế D làm chủ 01 máy tính xách tay màu đen, nhãn hiệu ASUS, cùng với thiết bị sạc pin trị giá 13.736.000 đồng; 01 két thu ngân nhãn hiệu ARICH B350 trị giá 800.000đ và số tiền 3.060.000đ. Chiếc máy tính xách tay cùng với sạc pin T1 cầm cố lấy 5.000.000đ và tiêu sài cá nhân, còn lại 510.000đ thì bị phát hiện, thu giữ. Tổng giá trị tài sản T1 đã chiếm đoạt của 02 bị hại là 19.596.000đ.

[3]. Về tính chất vụ án: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của cá nhân là khách thể được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến trật tự trị an xã hội, gây tâm lý lo lắng trong quần chúng nhân dân.

[4]. Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:

Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu, ngày 25/12/2024 bị Tòa án nhân dân huyện Văn Giang xử phạt 01 năm 9 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 năm 06 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo phạm tội lần này khi đang trong thời gian thử thách của án treo nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; tác động gia đình bồi thường thiệt hại và được bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt: Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, vai trò, nhân thân của bị cáo, HĐXX xét thấy: Bị cáo là người có nhân thân xấu. Bị cáo phạm tội mới trong thời gian thử thách của án treo cũng về tội trộm cắp tài sản nhưng không lấy đó làm bài học mà thể hiện lối sống buông thả, coi thường pháp luật, khó giáo dục, cải tạo. Do vậy, cần phải áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và đấu tranh, phòng ngừa tội phạm chung.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản riêng, không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6]. Về trách nhiệm dân sự: Không phải giải quyết do:

  • - Bị hại Công ty Cổ phần T4 do ông Trần Đức N là đại diện theo ủy quyền đã nhận lại tài sản là 01 máy tính bảng màu xám, nhãn hiệu Redmi, M: 22081283G.
  • Ông Nguyễn Tuấn A là đại diện theo ủy quyền của bị hại ông Đỗ Thế D đã nhận lại tài sản là 01 máy tính xách tay màu đen, nhãn hiệu ASUS, mặt sau có chữ: FX506LHB-HN188W, SN: N8NRCX10Z27335F, model: FX506L, cùng với sạc pin của máy tính để trên mặt két; số tiền 510.000 đồng thu giữ của T1 là số tiền còn lại từ việc T1 cầm cố chiếc máy tính xách tay trộm cắp của ông D và số tiền 3.000.000₫ do mẹ đẻ T1 là bà Mai Thị P bồi thường thay T1. Ông Tuấn A không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm và đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
  • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Quản Bá P1 đã nhận số tiền 5.000.000 đồng do mẹ đẻ bị cáo T1 là bà Mai Thị P bồi thường thay cho bị cáo. Ông P1 đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bà Mai Thị P không yêu cầu bị cáo phải trả lại bà số tiền 5.000.000₫ nêu trên.

[7]. Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với 01 chiếc áo khoác dài tay màu đen, bên ngoài phía sau áo có chữ “Saint Lauren”; 01 mũ lưỡi trai bằng vải màu đen, phía trước có chữ “HEART” màu trắng; 01 khẩu trang màu đen (T1 mặc khi thực hiện các hành vi trộm cắp tài sản) là các đồ vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu cho tiêu hủy.
  • - Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme, mặt lưng màu xanh là điện thoại của bị cáo T1, không sử dụng vào việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.

[8]. Các vấn đề khác:

  • - Đối với anh Nguyễn Hữu M đã cầm cố hộ T1 chiếc máy tính xách tay màu đen, nhãn hiệu ASUS tại cửa hàng cầm đồ Ngọc P2 và ông Quản Bá P1 đã nhận cầm cố chiếc máy tính xách tay trên. Anh M và ông P1 không biết đây là tài sản do T1 trộm cắp được nên không có căn cứ xử lý.
  • - Đối với 01 chiếc két thu ngân bằng kim loại màu đen, dạng hình hộp chữ nhật T1 trộm cắp tại cửa hàng P4, Công an đã tiến hành truy tìm nhưng không có kết quả.

[9]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào:
    • - Khoản 1 điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 53; khoản 5 Điều 65; Điều 55; khoản 2 Điều 56; Điều 38 Bộ luật hình sự.
    • - Điểm a khoản 1 Điều 46; điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Khoản 1, điểm c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
    • - Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
  2. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thành T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  3. Mức hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành T1 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt 01 năm 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 160/2024/HSST ngày 25/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Văn Giang, trừ 122 ngày tạm giữ, tạm giam. Tổng hợp hình phạt, bị cáo T1 phải chấp hành là 03 năm 04 tháng 28 ngày tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 27/3/2025.
  4. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
  5. Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:
    • - Về trách nhiệm dân sự: Không phải giải quyết.
    • - Về xử lý vật chứng:
      • + Tịch tho cho tiêu hủy: 01 áo khoác dài tay màu đen, bên ngoài phía sau áo có chữ “Sain Laurent"; 01 mũ lưỡi trai bằng vải màu đen, phía trước có chữ “HEART” màu trắng; 01 khẩu trang màu đen.
      • + Trả lại bị cáo Nguyễn Thành T1 01 điện thoại màu xanh, nhãn hiệu Realme C5, góc dưới bên trái màn hình bị nứt vỡ, bên trong khe sim có gắn 01 thẻ sim Viettel 4G có dãy số 8984048000943475704.
      • (Tình trạng, số lượng vật chứng theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 12/6/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh H và Chi cục thi hành án dân sự huyện Văn Giang).
  6. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thành T1 phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  7. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Phòng KTNV&THA - TAND tỉnh Hưng Yên;
  • - VKSND tỉnh Hưng Yên;
  • - CA huyện Văn Giang;
  • - VKS huyện Văn Giang;
  • - Chi cục THADS huyện Văn Giang;
  • - UBND phường Chiềng Sinh, TP. Sơn La, tỉnh Sơn La;
  • - Bị cáo; Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Hoàng Lâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 58/2025/HSST ngày 17/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN GIANG, TỈNH HƯNG YÊN về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 58/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN GIANG, TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thành T phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger