|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 58/2024/HS-ST
Ngày 27/3/2025.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trần Kiên.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Tư;
Ông Nguyễn Văn Bảng.
- Thư ký phiên toà: Bà Dương Thị Mai Loan – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Vân Anh – Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 77/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 3 năm 2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Từ Thị H, sinh năm 2004; nơi đăng ký HK: Thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nơi ở: Tổ dân phố P, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Sán Dìu; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Từ Văn L, sinh năm 1974 và bà Nghiêm Thị S, sinh năm 1976; chồng: Chưa có; con: Chưa có; tiền án: Không có; tiền sự: Không có. Bị cáo bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, hiện tại ngoại (Có mặt tại phiên tòa).
- Bị hại:
- Bà Thân Thị M, sinh năm 1961; người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1958; đều cư trú tại: Thôn P, xã Đ (nay là tổ dân phố P, phường Đ), thành phố B, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt);
- Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1965; nơi cư trú: Thôn P, xã Đ (nay là tổ dân phố P, phường Đ), thành phố B, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Chị Từ Thị H1, sinh năm 2000; nơi cư trú: Thôn P, xã Đ (nay là tổ dân phố P, phường Đ), thành phố B, tỉnh Bắc Giang (có mặt).
- Bà Nghiêm Thị S, sinh năm 1976; nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 50 phút ngày 01/10/2024, H điều khiển xe mô tô Honda Lead biển số 98E1-670.95 đi từ phòng trọ đến công ty H2 để làm ca đêm. H điều khiển xe đi theo đường B, hướng từ tổ dân phố P đi đường V với tốc độ khoảng 40km/h. Khi H đi được khoảng 01 km thì gặp bà Thân Thị M và bà Nguyễn Thị Đ đang đi bộ tập thể dục ở phía trước cùng chiều. Bà Đ đi ở làn dành cho xe mô tô và xe thô sơ (làn phía trong), bà M đi phía trước ở làn đường dành cho các phương tiện đi theo hướng tổ dân phố P đi đường V (làn phía ngoài). Trên đường thời điểm này có ánh sáng đèn điện công cộng. H điều khiển xe mô tô do không chú ý quan sát phía trước nên phần tay lái bên phải xe mô tô va vào cánh tay trái bà Đ. Sau va chạm, xe mô tô do H điều khiển bị mất thăng bằng tiếp tục đâm vào lưng bà M. Hậu quả làm bà M ngã xuống đường bị chấn thương sọ não được đưa đi cấp cứu còn bà Đ bị bầm tím nhẹ cánh tay trái.
Kết quả kiểm tra đối với Từ Thị H xác định không có cồn và âm tính với ma túy. Kết quả xác minh tại Sở Giao thông vận tải tỉnh B xác định: Từ Thị H được Sở Giao thông vận tải tỉnh B cấp giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số [...], ngày cấp 17/09/2024.
* Khám nghiệm hiện trường: Hiện trường vụ tai nạn tại đường B thuộc địa phận tổ dân phố P, phường Đ, thành phố B. Đường được trải nhựa bằng phẳng, rộng 10,6m, ở giữa có kẻ vạch kẻ sơn nét đứt màu vàng chia thành hai chiều đường xe chạy, mỗi chiều đường có kẻ sơn nét liền màu trắng chia đường thành hai phần đường, kích thước mỗi phần đường từ Đ1 sang T lần lượt là 1,75m, 3,45m, 3,55m, 1,85m. Chọn mép đường phía Đông của đường B làm mép chuẩn. Chọn cột đèn đường số “I2/16” ở đất trống phía Đông của đường là mốc.
Tại đường B phát hiện xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, biển số 98E1-670.95 đổ nghiêng phải (ký hiệu số 1). Đầu xe hướng Bắc, đuôi xe hướng Nam. T chụp bánh trước xe mô tô cách mép chuẩn là 2,9m. T trục bánh sau xe mô tô cách mép chuẩn và mốc lần lượt là 3m và 5,65m.
Vết cày xước mặt đường không liên tục, kích thước (7,25 x 0,16)m (ký hiệu số 2). Điểm đầu của vết cách mép chuẩn và mốc lần lượt là 2,6m và 4,45m. Điểm cuối của vết kết thúc tại để chân phía sau bên phải của xe mô tô.
Kẹp tóc bằng kim loại, kích thước (0,1 x 0,05)m (ký hiệu số 3). Vị trí này cách điểm đầu vết (2) là 3,7m, cách mép chuẩn là 4,7m, cách tâm trục bánh sau của xe mô tô là 4m.
Tai nghe không dây bị hỏng (ký hiệu số 4). Vị trí này cách mép chuẩn là 0,3m, cách tâm trục bánh sau xe mô tô là 4,2m.
Vết màu nâu đỏ dạng giọt, kích thước (0,46 x 0,15)m (ký hiệu số 5). T vết cách mép chuẩn là 2,3m là tâm trục bánh trước của xe mô tô là 1,25m.
* Khám nghiệm xe mô tô biển số 98E1-670.95:
Gáo gương chiếu hậu bên trái bị gãy khuyết, cần gương xoay tự nhiên. Mặt ngoài ốp nhựa đầu xe bên trái có vết mài sát nhựa, kích thước (10x2)cm.
Mặt ngoài cánh yếm trái có vết mài sát nhựa bám dính chất màu vàng, kích thước (9,5x3,5)cm. Cần gương chiếu hậu bên phải quay tự nhiên, mặt trước có vết xước kim loại bám dính bụi đất, kích thước (2x1)cm.
Đầu tay phanh bên phải có vết mài kim loại, kích thước (1x1)cm. Mặt ngoài cánh yếm phải có vết mài sát mất sơn nhựa, kích thước (30x2)cm.
Đầu ngoài chắn bùn phía trước bên phải có vết mài sát nhựa, kích thước (4x5x2)cm. Mặt ngoài ốp nhựa dưới để chân phải có vết mài sát nhựa, kích thước (20x14)cm.
Mặt ngoài ốp nhựa sườn xe bên phải có vết mài sát nhựa, kích thước (15x8)cm. Cạnh ngoài để chân sau bên phải có vết mài kim loại, kích thước (10x1)cm. Mặt ngoài ốp nhựa bảo vệ ống xả bên phải có vết dập vỡ, rách nhựa, mài sát nhựa, kích thước (12x11)cm (bút lục 94-95).
* Về thương tích của bà Thân Thị M:
Bà M cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh B từ ngày 01/10/2024 đến ngày 03/10/2024 thì chuyển đến Bệnh viện T1 trong tình trạng chấn thương sọ não. Ngày 24/10/2024, bà M tiếp tục chuyển đến Bệnh viện đa khoa tỉnh B điều trị đến ngày 08/11/2024 thì ra viện điều trị nhà. Hiện nay, bà M trong tình trạng bị liệt người, không nói và không vận động được nên không lấy được lời khai. Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định xác định tỷ lệ thương tích của bà Thân Thị M.
Kết luận giám định pháp y về thương tích số 2799 ngày 02/12/2024 của Trung tâm pháp y - Sở y tế tỉnh B kết luận:
- Các kết quả chính: Thương tích vết sẹo mổ vùng trán đỉnh thái dương phải, khuyết sọ dưới vết mổ, đáy phập phồng + Hai vết sẹo mổ dẫn lưu vùng chẩm phải + Tụ máu dưới màng cứng cấp diện rộng bán cầu phải, gây hiệu ứng khối đè đẩy nhiều nhu mô não lân cận, tỷ trọng không đồng nhất. Chảy máu khoang dưới nhện bể quanh cầu- quanh cuống não, lều tiểu não và liềm đại não, rải rác trong một số rãnh cuộn não vùng trán- thái dương hai bên. Thoát vị dưới liềm đại não sang trái và hồi thái dương trong bên phải qua khe bichat + CT Scanner sọ não hiện tại kết luận: Hình ảnh các ổ khuyết não nhỏ, do di chứng tổn thương cũ thùy trán và thái dương phải. Tụ máu dưới màng cứng cấp lớp mỏng vùng thái dương- chẩm phải. Các nốt vôi hóa trong nhu mô vùng vỏ- dưới vỏ thùy trán, chẩm trái và thái dương phải, xung quanh không thấy phù não. Giãn nhẹ các não thất thể lưu thông, thấm dịch não tủy quanh các não thất. Thoái hóa não chất trắng. Khuyết xương sọ rộng (ĐK-135mm) vùng trán - thái dương - đỉnh phải sau mổ cũ, có thoát vị não nhẹ qua vùng khuyết xương: 70%.
- Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của Thân Thị M tại thời điểm giám định là: 70% (bẩy mươi phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
- Kết luận khác: Cơ chế, vật, lực gây thương tích: Các thương tích do va chạm với vật tày gây nên, lực tác động mạnh.
Cơ quan CSĐT Công an thành phố B đã trưng cầu giám định xác định cơ chế hình thành dấu vết trong vụ tai nạn giao thông.
Kết luận giám định số 2467/KL-KTHS ngày 20/11/2024 của Phòng K - Công an tỉnh B kết luận:
- Dấu vết trượt xước sơn, nhựa, sạch bụi đất in hằn các đường song song, hướng từ trước ra sau ở mặt nạ và ốp nhựa bên phải đầu xe mô tô biển kiểm soát 98E1- 670.95 (ảnh 13, 14 bản ảnh khám phương tiện) được hình thành do va chạm với vật tày có bề mặt là vải sợi (như cơ thể người mặc quần áo) tạo nên.
- Dấu vết trượt xước nhựa, kim loại, bám dính chất màu xám (dạng bột đá) ở bên phải của xe mô tô biển kiểm soát 98E1-670.95 gồm chắn bùn bánh trước, tay phanh, ốp nhựa đầu xe, cánh yếm, để chân trước, để chân sau, bảo vệ ống xả (ảnh 8, 9, 10, 11, 12 bản ảnh khám nghiệm phương tiện) được hình thành do va chạm với vật tày cứng có bề mặt không nhẵn tạo nên. Các dấu vết trên phù hợp với quá trình xe mô tô biển kiểm soát 98E1-670.95 đổ nghiêng phải, rê trượt trên mặt đường đồng thời tạo nên dấu vết cày xước ký hiệu số 2 (ảnh 7, 8 bản ảnh khám nghiệm hiện trường).
- Không xác định được vị trí va chạm giữa xe mô tô BKS 98E1-670.95 với nạn nhân trên mặt đường (do không trực tiếp nghiên cứu dấu vết trên cơ thể, trang phục, đồ vật do nạn nhân mặc và mang theo khi xảy ra tai nạn).
- Không xác định được tốc độ của phương tiện tại thời điểm xảy ra tai nạn qua dấu vết cơ học.
Cáo trạng số: 74/CT-VKS ngày 07/3/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố Từ Thị H về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo điểm b khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã nêu. Khoảng 18 giờ 50 phút ngày 01/10/2024, bị cáo điều khiển xe mô tô Honda Lead biển số 98E1-670.95 từ phòng trọ đến công ty H2 để làm ca đêm, bị cáo đi theo đường B. Khi bị cáo đi được khoảng 01 km thì gặp bà Thân Thị M và bà Nguyễn Thị Đ đang đi bộ tập thể dục ở phía trước cùng chiều. Do không chú ý quan sát phía trước nên phần tay lái bên phải xe mô tô va vào bà Đ. Sau đó, do bị mất thăng bằng tiếp tục đâm vào lưng bà M. Thân nhân của bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại theo thỏa thuận. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ nhiệm hình sự cho bị cáo.
Đại diện cho bà Thân Thị M là ông Nguyễn Văn Q có lời khai xác định: Tai nạn giao thông làm bà Đ bị thương là điều không mong muốn. Sau khi tai nạn xảy ra, thân nhân của bị cáo đã đến gia đình thăm hỏi và bồi thường thiệt hại số tiền là 150.000.000 đồng. Đại diện cho gia đình, ông không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì và đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Bị hại là bà Nguyễn Thị Đ : Khoảng 18 giờ 50 phút ngày 01/10/2024, bà và bà Đ đang đi bộ theo đường B thuộc tổ dân phố P đi đường V thì bị bị cáo đâm vào lưng bà M, bà bị xây sát khuỷu tay trái nhẹ, không có thương tích đáng kể. Nay bà không yêu cầu bồi thường và đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Từ Thị H1 có lời khai xác định: Chị là chị ruột của bị cáo, ngày 01/10/2024 chị cho bị cáo mượn xe mô tô Honda Lead, biển số 98E1-670.95 và Giấy chứng nhận đăng ký mô tô để đi làm và gây tai nạn. Cơ quan điều tra đã trả lại xe và giấy tờ, xe có bị hư hỏng nhẹ, nhưng chị không yêu cầu bồi thường.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Nghiêm Thị S có lời khai xác định: Bà là mẹ đẻ của bị cáo. Sau khi tai nạn xảy ra, bà gặp gỡ gia đình bị hại và bồi thường thiệt hại theo thỏa thuận. Nay bà không có yêu cầu gì và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên toà sau khi phân tích tính chất, nội dung hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo vẫn giữ nguyên về tội danh, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Từ Thị H 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù, về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ", nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là từ 2 năm đến 02 năm 06 tháng, tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho UBND phường Đ, thành phố B giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
- Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo Giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số [...] ngày 17/9/2024.
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, đại diện bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2]. Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Vắng mặt bị hại, đại diện của bị hại, nhưng đã có lời khai, không yêu cầu bồi thường, nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt theo Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[3]. Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, đại diện cho bị hại, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm các phương tiện và các tài liệu khác có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử thấy: Từ Thị H có giấy phép lái xe mô tô số [...] hạng A1 cấp 17/09/2024 do Sở Giao thông vận tải tỉnh B cấp. Khoảng 18 giờ 50 phút ngày 01/10/2024, H điều khiển xe mô tô biển số 98E1-670.95 đi trên đường B thuộc địa phận phường Đ, thành phố B. Do không chú ý quan sát và không làm chủ tốc độ nên xe mô tô do H điều khiển va chạm với bà Nguyễn Thị Đ và bà Thân Thị M đang đi bộ phía trước cùng chiều. Hậu quả làm bà M bị thương tích 70%. Hành vi của Từ Thị H đã vi phạm khoản 2 Điều 12 Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ.
Bị cáo có năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Từ Thị H phạm tội : “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo điểm b khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự, quy định: “1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên”.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm an toàn công công, trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ.
[4]. Xét lỗi gây ra tai nạn thì thấy:
Tai nạn xảy ra là do lỗi hỗn hợp, bị cáo không chú ý quan sát trong quá trình điều khiển phương tiện giao thông, bị hại đi bộ không đúng phần đường dành cho người đi bộ.
[5]. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
[6]. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Sau khi tai nạn xảy ra thân nhân của bị cáo đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả cho bị hại; bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; đại diện gia đình bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự qui định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Qua đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo có có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không cần bắt bị cáo cách ly xã hội mà xử phạt tù, cho hưởng án treo. Giao bị cáo cho UBND cấp xã, nơi bị cáo cư trú giám sát giáo dục trong thời gian thử thách theo Điều 65 của Bộ luật hình sự.
[7]. Về hình phạt bổ sung:
Bị cáo không hành nghề lái xe, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 260 của Bộ luật hình sự.
[8]. Về trách nhiệm dân sự:
Các bên đã tự nguyện bồi thường theo thỏa thuận. Bị hại, đại diện bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì khác, Hội đồng xét xử không xem xét.
[9]. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo Giấy phép lái xe ô tô hạng A1 số [...] ngày 17/9/2024.
Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô Honda Lead, biển số 98E1-670.95 và Giấy chứng nhận đăng ký mô tô cho chị Từ Thị H1, Hội đồng xét xử thấy là có căn cứ.
[10]. Về án phí:
Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về điều luật áp dụng và hình phạt:
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Từ Thị H 01 (Một) năm tù, về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ", cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (Hai) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Từ Thị H cho UBND phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên theo Luật Thi hành án hình sự, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về xử lý vật chứng:
Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, trả lại cho bị cáo Giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số [...] ngày 17/9/2024.
- Về án phí:
Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Từ Thị H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a; 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo:
Áp dụng Điều; 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, đại diện bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Trần Kiên |
Nơi nhận:
- - TAND tỉnh Bắc Giang;
- - VKSND tỉnh Bắc Giang;
- - VKSND tp Bắc Giang;
- - Cơ quan CSĐT-CA tỉnh Bắc Giang;
- - Phòng HS – CA tỉnh Bắc Giang;
- - Chi cục THADS tp Bắc Giang;
- - UBND ph Đồng Sơn, tp Bắc Giang;
- - UBND xã Tân Mộc, h. Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang;
- - Người tham gia tố tụng;
- - Lưu HS, VP.
Bản án số 58/2024/HS-ST ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 58/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Thị Huyền Vi phạm GTĐB
