Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN SÓC SƠN- TP . HÀ NỘI

----------

Bản án số:58/2025/HSST

Ngày 24/03/2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do- Hạnh phúc

==================

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN – TP.HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Việt Hùng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Duy Tuyên.

Bà Nguyễn Thị Hồng.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Lê Thị Vân Anh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Lập Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 03 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 18/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2025; theo quyết định đưa vào xét xử số: 39/2025/HSST-QĐXXST-HS ngày 10/03/2025 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên Trần Lê V – sinh năm: 1984; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký HKTT: thôn Đ, xã S, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Con ông: Trần Văn Q, sinh năm: 1954; Con bà: Nguyễn Thị L, sinh năm: 1952; Vợ: Phạm Thị Sinh V1 (đã ly hôn); Con: Có 02 con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2012;

- Tiền sự: Ngày 23/11/2021, bị Công an xã Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 1.500.000đ về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Chưa chấp hành xong.

- Tiền án: + Ngày 27/11/2015, bị TAND thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 12 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1, Điều 138 - Bộ luật hình sự năm 1999 (Bản án số 146/2015/HSST). Bị can đã chấp hành xong các quyết định và (đã được xóa án tích).

+ Ngày 14/9/2022, bị TAND huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 15 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1, Điều 173 - Bộ luật hình sự (Bản án số 66/2022/HSST). (bị can chưa được xóa án tích).

- Bị cáo bị khởi tố và tạm giam từ ngày 16/9/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 01 Công an thành phố H. (SG: 5236E2/2). Có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên Nguyễn Đức B – sinh năm: 1991; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký HKTT: thôn Đ, xã S, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Con ông: Nguyễn Văn P, sinh năm: 1970; Con bà: : Trần Thị H, sinh năm: 1974; Vợ: Trần Thu T, sinh năm 1993 (Đã ly hôn); Con: Có 01 con, sinh năm 2011;

- Tiền sự: + Ngày 09/8/2022, bị công an huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 2.500.000đ về hành vi “Trộm cắp tài sản” (QĐ số 31/QĐ-XPHC). (Đã chấp hành xong);

+ Ngày 01/7/2022 bị TAND huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. (Đã chấp hành xong)

- Tiền án: Ngày 09/5/2014, bị TAND huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 03 năm tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại khoản 1, Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 (bản án số 30/2014/HSST). Bị can đã chấp hành xong các quyết định và (đã được xóa án tích);

- Bị cáo bị khởi tố và tạm giam từ ngày 16/9/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 01 Công an thành phố H. (SG: 5237E2/5). Có mặt tại phiên tòa.

Nội dung vụ án:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13h00' ngày 16/09/2024, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy – Công an huyện S đang làm nhiệm vụ tại khu vực bến xe bus thôn B, xã T, huyện S, thành phố Hà Nội đã phát hiện hai đối tượng Nguyễn Đức B – sinh năm: 1991 và Trần Lê V – sinh năm: 1984, đều ở thôn Đ, xã S, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc có biểu hiện nghi vấn, nên đã tiến hành kiểm tra hành chính. Tại đây, Văn tự G lấy từ túi quần bên phải ra 01 túi nilon kích thước khoảng 2x2cm bên trong chứa bột màu trắng giao nộp cho cơ quan Công an và khai nhận là ma túy Heroine. Cơ quan Công an đã niêm phong tang vật và đưa các đối tượng về trụ sở để tiếp tục làm việc.

Quá trình điều tra xác định: Do bản thân là người nghiện chất ma túy, nên khoảng 12h30' ngày 16/09/2024, Trần Lê Văn rủ Nguyễn Đức B cùng đi xe bus lên địa bàn thành phố P, tỉnh Thái Nguyên để mua ma túy về cùng sử dụng, B đồng ý. Sau đó, V và B cùng đi xe bus lên địa phận thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Đến nơi, V và B xuống xe, B đưa cho V 200.000đ để mua ma túy. Nhận được tiền của B, V một mình đi bộ ra cách đó khoảng 50m, gặp một người nam giới không quen biết đang đứng ở rìa đường QL3 đặt vấn đề mua 200.000đ tiền ma túy loại “Heroine”. Người nam giới này đồng ý, nhận tiền và đưa lại cho V 01 túi nilon bên trong có chứa bột màu trắng (ma túy Heroine). V quay lại cùng B đi xe bus về khu vực xã T, huyện S, TP Hà Nội để tìm địa điểm sử dụng, khi xuống xe, cả 2 đang đi bộ thì bị cơ quan Công an kiểm tra, phát hiện như đã nêu trên.

Cơ quan CSĐT – Công an huyện S đã tiến hành xét nghiệm nước tiểu, kết quả: Trần Lê V và Nguyễn Đức B dương tính với ma túy.

Tại cơ quan CSĐT- Công an huyện S, bị can Trần Lê V và Nguyễn Đức B đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên; bị can có một tiền án chưa được xóa án tích, nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm.

* Vật chứng thu giữ: Ngày 16/9/2024, Công an huyện S đã tạm giữ của Trần Lê V: 01 túi nilon kích thước 2x2 cm, bên trong chứa chất bột màu trắng.

Tại bản kết luận giám định số 6777/KL-KTHS ngày 25/9/2024 của Phòng K – Công an thành phố H. Kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 túi nilon (được đóng gói bên ngoài bằng giấy) là ma túy loại Heroine, khối lượng: 0.343 gam.

Bản Cáo trạng số 20/CT - KS ngày 18 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội truy tố bị cáo Trần Lê V và Nguyễn Đức B về tội “Tàng trữ trỏi phộp chất ma tỳy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa cỏc bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung vụ án đã nêu. Các bị cáo nhận tội “Tàng trữ trỏi phộp chất ma túy”, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố và kết luận: các bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Sau khi đánh giá tính chất của vụ án, mức độ nguy hiểm, hành vi phạm tội của các bị cáo, đánh giá nhân thân của từng bị cáo, xem xét thái độ khai báo của từng bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 (thêm điểm h khoản 1 Điều 52 đối với bị cáo V) Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 106, 135, Điều 333, 337 Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết 326/2016/NQ- UBTVQH 14- ngày 30/12/ 2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử phạt: Trần Lê V mức án từ 24 đến 30 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/9/2024.

Xử phạt: Nguyễn Đức B mức án từ 18 đến 20 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/9/2024.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với các bị cáo.

Về vật chứng: Cho tịch thu tiêu hủy 01 phong bì bên trong có chất ma túy.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo nói lời sau cùng xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2]. Khoảng 13h00' ngày 16/9/2024, tại địa phận thôn B, xã T, huyện S, thành phố Hà Nội, Trần Lê V và Nguyễn Đức B đã có hành vi tàng trữ 01 túi nilon bên trong có chứa 0.343 gam chất ma túy loại “Heroine: để cùng sử dụng cho bản thân thì bị Cơ quan điều tra Công an huyện S, TP . Hà Nội phát hiện kiểm tra bắt giữ người cùng vật chứng.

Hành vi cất giữ trái phép ma túy trong người của các bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Xét hành vi phạm tội của các bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, cũng là nguyên nhân gây ra các tội phạm khác và các căn bệnh truyền nhiễm trong xã hội mà Đảng và Nhà nước đang ra sức dẹp bỏ. Do đó việc đưa các bị cáo ra truy tố, xét xử trước pháp luật nhằm răn đe, giáo dục các bị cáo phòng ngừa chung trong xã hội là cần thiết.

Căn cứ vào tính chất của vụ án, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo, cần phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét đến tính chất của vụ án, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo, nhân thân của từng bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ Bộ luật Hình sự quy định.

Về nhân thân từng bị cáo: Cả hai bị cáo đều là những đối tượng có nhân thân xấu, đã từng bị đưa ra xét xử và đi tập trung cải tạo nhưng vẫn phạm tội, cụ thể:

- Đối với bị cáo V: Ngày 23/11/2021, bị Công an xã Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 1.500.000đ về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Chưa chấp hành xong. Ngày 27/11/2015, bị TAND thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 12 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1, Điều 138 - Bộ luật hình sự năm 1999 (Bản án số 146/2015/HSST). Bị can đã chấp hành xong các quyết định và (đã được xóa án tích). Ngày 14/9/2022, bị TAND huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 15 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1, Điều 173 - Bộ luật hình sự (Bản án số 66/2022/HSST). bị cáo phạm tội mới khi chưa được xóa án tích nên phải chịu tình tiết tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, khoản 1, Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Đối với bị cáo B: + Ngày 09/8/2022, bị công an huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 2.500.000đ về hành vi “Trộm cắp tài sản” (QĐ số 31/QĐ-XPHC). (Đã chấp hành xong); Ngày 01/7/2022 bị TAND huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. (Đã chấp hành xong), Ngày 09/5/2014, bị TAND huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 03 năm tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại khoản 1, Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 (bản án số 30/2014/HSST). Bị cáo đã chấp hành xong các quyết định và (đã được xóa án tích).

Từ những nhận định trên Hội đồng xét xử thấy cả hai bị cáo đều có nhân thân xấu, phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, cần phải tiếp tục cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục các bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.

Đối với mức hình phạt Viện kiểm sát đề nghị đối với các bị cáo là phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo nên chấp nhận.

- Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 249 Bộ Luật Hình sự quy định hình phạt bổ sung đối với người phạm tội; căn cứ vào tài liệu điều tra có trong hồ sơ thì các bị cáo không có tài sản nên không áp dụng đối với bị cáo.

- Về vật chứng: Đối với 01 phong bì niêm phong ma túy, có chữ ký của Trần Lê Văn cán B1 Công an huyện và giám định viên là tang vật của vụ án nên cho tịch thu tiêu hủy.

- Đối với đối tượng đã bán ma túy cho V ngày 16/9/2024, tại khu vực thành phố P, tỉnh Thái Nguyên, quá trình điều tra do không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, nên cơ quan CSĐT – Công an huyện S không có căn cứ để điều tra, làm rõ, do đó không đề cập xử lý.

- Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

Quyết định:

Tuyên bố bị cáo: Trần Lê VNguyễn Đức B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 (thêm điểm h khoản 1 Điều 52 đối với bị cáo Trần Lê V), Điều 38 Bộ luật Hình sự;

- Điều 106, 135, Điều 333, 337 Bộ luật tố tụng Hình sự;

- Nghị quyết 326/2016/ NQ - UBTVQH 14- ngày 30/12/ 2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử phạt: Trần Lê V: 26 (hai mươi sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 16/9/2024.

Xử Phạt: Nguyễn Đức B: 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày 16/9/2024.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ma túy có chữ ký của Trần Lê V và giám định viên. (Tình trạng như Biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện S và Chi cục thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn).

Về án phí: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm cho Nhà nước.

Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo
  • - VKSND H.Sóc Sơn;
  • - Công an H. Sóc Sơn;
  • - THADS H.Sóc Sơn;
  • - Trại giam số I CAHN;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, VP

T/M hội đồng xét xử sơ thẩm

Thẩm Phán

Lê Việt Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 58/2025/HSST ngày 24/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN - TP. HÀ NỘI về tàng trữ trái phép chất ma tuý (hình sự)

  • Số bản án: 58/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN - TP. HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tội tàng chữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger