|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 58/2025/HS-ST
Ngày: 19-3-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Nhung.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Kim Lý;
- Bà Nguyễn Thị Thắm.
Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vui – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 45/2025/TLST-HS ngày 18 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 3 năm 2025, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn C, sinh năm 1993 tại tỉnh Đắk Lắk; hộ khẩu thường trú: Buôn D, xã Đ, huyện L, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 10/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1969; có 03 chị em, lớn nhất sinh năm 1991, nhỏ nhất sinh năm 1996.
Tiền án: Ngày 29/9/2022, bị Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát (nay là thành phố B), tỉnh Bình Dương xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đối với hành vi thực hiện ngày 04/6/2022, chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/3/2024, chấp hành xong án phí ngày 24/3/2023.
Tiền sự: Không.
Nhân thân:
- - Ngày 30/11/2011, bị Tòa án nhân dân huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 06 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản” đối với hành vi thực hiện ngày 10/3/2011, chấp hành xong hình phạt cải tạo không giam giữ ngày 09/7/2012, chấp hành xong án phí ngày 07/02/2012.
- - Ngày 12/7/2018, bị Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát (nay là thành phố B), tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đối với hành vi thực hiện ngày 31/01/2018, chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/4/2019, chấp hành xong án phí ngày 26/12/2018.
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/10/2024.
Bị cáo có mặt tại phiên toà.
Bị hại: Nguyễn Hoàng Gia T1, sinh năm 2002; địa chỉ: Tổ A, khu phố D, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn C là đối tượng có 01 tiền án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tháng 10/2024, sau khi chấp hành xong hình phạt tù, C đến ở nhờ tại phòng trọ số G nhà T, đường N thuộc khu phố C, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương do bạn là Nguyễn Văn T2 (sinh năm 1993, hộ khẩu thường trú: Thôn L, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh) và anh Nguyễn Văn S (sinh năm 1998, hộ khẩu thường trú: Thôn P, xã L, huyện B, tỉnh Quảng Bình) thuê ở.
Khoảng 01 giờ ngày 22/10/2024, Nguyễn Văn C nảy sinh ý định đi trộm cắp tài sản đem bán lấy tiền tiêu xài nên đi bộ từ nhà trọ Tâm N đến đường NB2A tìm tài sản lấy trộm. Khi đi đến trước cổng Trường Tiểu học L thuộc khu phố B, phường M, thành phố B, C leo tường rào vào bên trong trường tìm tài sản lấy trộm. Đi đến khu vực gần cổng trường, C phát hiện cửa phòng bảo vệ đóng nhưng không khóa, bên trong có anh Nguyễn Hoàng Gia T1 là nhân viên bảo vệ của trường nằm ngủ trên võng nên C mở cửa phòng đi vào bên trong phòng tìm tài sản. Cương lén lút đi lại gần chỗ anh T1 nằm ngủ thì thấy trên ghế gỗ bên cạnh để 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro màu tím của anh T1 đang cắm sạc. C lấy điện thoại di động của anh T1 cất giấu vào trong túi quần bên trái phía trước rồi đi ra khỏi phòng, trèo qua tường rào ra ngoài, đi bộ về phòng trọ số G nhà T để ngủ. Khoảng 11 giờ cùng ngày, anh Hoàng Văn S1 (sinh năm 1987, hộ khẩu thường trú: Thôn P, xã L, huyện B, tỉnh Quảng Bình) đi bộ đến phòng trọ số 07 nhà T để hỏi mượn xe mô tô của anh Nguyễn Văn S. Lúc này, anh S1 thấy C nằm ngủ dưới nền phòng trọ. Anh S1 đi vào phòng trọ nằm ngủ dưới nền gạch chờ anh S về.
Sau khi bị mất trộm tài sản, anh Nguyễn Hoàng Gia T1 kiểm tra định vị trên điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro màu tím của mình thì phát hiện điện thoại đang ở phòng trọ số 07 nhà trọ Tâm Như nên anh T1 đến Công an phường M trình báo vụ việc. Khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, Công an phường M kiểm tra hành chính phòng trọ số 07 nhà trọ Tâm N phát hiện C cùng tài sản trộm cắp. Sau đó, vụ việc được chuyển giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B giải quyết theo thẩm quyền.
Vật chứng thu giữ: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro màu tím, dung lượng 512GB.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Nguyễn Văn C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của C phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án.
Theo Kết luận định giá tài sản số 127/KL-HĐĐGTS ngày 25/10/2024 của Hội đồng Định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro màu tím, dung lượng 512GB, đã qua sử dụng trị giá 18.720.000 đồng.
Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Ngày 31/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B giao trả 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro màu tím, dung lượng 512GB cho anh Nguyễn Hoàng Gia T1. Anh T1 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường.
Tại bản Cáo trạng số 64/CT-VKSBC ngày 17/02/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Văn C về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát trong phần tranh luận tại phiên tòa, giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 14 tháng đến 18 tháng tù.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi đúng như nội dung Cáo trạng truy tố, có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
Bị cáo không bào chữa, không có tranh luận gì với đại diện Viện Kiểm sát.
Trình bày lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã đảm bảo thực hiện đúng và đầy đủ.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
[2.1] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy đã có đủ cở sở để kết luận: Vào khoảng 01 giờ 30 phút ngày 22/10/2024, tại Trường Tiểu học L thuộc khu phố B, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương, Nguyễn Văn C đã có hành vi lén lút trèo tường rào, đột nhập vào phòng bảo vệ, lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro màu tím, dung lượng 512GB, trị giá 18.720.000 đồng của bị hại Nguyễn Hoàng Gia T1 nhằm mục đích bán lấy tiền tiêu xài. Sau đó, C bị lực lượng Công an kiểm tra hành chính phát hiện thu giữ được điện thoại chiếm đoạt.
[2.2] Xét bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Về nhận thức, bị cáo hoàn toàn biết hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm và trừng trị. Nhưng vì động cơ tư lợi, tham lam, lười lao động, muốn có tiền tiêu xài mà không phải tốn công sức lao động nên bị cáo cố ý thực hiện hành vi phạm tội, bất chấp hậu quả, thể hiện ý thức liều lĩnh và xem thường pháp luật.
[2.3] Hành vi phạm tội của bị cáo không những xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý hoang mang lo sợ cho quần chúng nhân dân.
[2.4] Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản", tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Như vậy, bản Cáo trạng số 64/CT-VKSBC ngày 17/02/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố đối với bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[3.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án: Ngày 29/9/2022, bị cáo bị Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát (nay là thành phố B), tỉnh Bình Dương xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/3/2024. Hành vi phạm tội lần này thực hiện vào ngày 22/10/2024, khi chưa được xóa án tích. Do đó, lần phạm tội này bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng là “tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
[3.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản đã được thu hồi giao trả lại cho bị hại. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[4] Về nhân thân: bị cáo có nhân thân xấu:
- - Ngày 30/11/2011, bị Tòa án nhân dân huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 06 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản” đối với hành vi thực hiện ngày 10/3/2011, chấp hành xong hình phạt cải tạo không giam giữ ngày 09/7/2012, chấp hành xong án phí ngày 07/02/2012.
- - Ngày 12/7/2018, bị Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát (nay là thành phố B), tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đối với hành vi thực hiện ngày 31/01/2018, chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/4/2019, chấp hành xong án phí ngày 26/12/2018.
[5] Do đó, cần xử phạt bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo nhằm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục cho bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.
[6] Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát là phù hợp và có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Đối với Nguyễn Văn T2, Nguyễn Văn S và Hoàng Văn S1 do không biết C trộm cắp điện thoại nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, không đề cập xử lý đối với T2, S và S1 là phù hợp.
[8] Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng đã giải quyết xong.
[9] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 136, Điều 260, khoản 1 Điều 268, Điều 269 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 20171.
Căn cứ khoản 1 Điều 21, khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về tội danh và mức hình phạt: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 23/10/2024.
- Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Đã giải quyết xong.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
- Về quyền kháng cáo:
Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án.
Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đỗ Thị Nhung |
Bản án số 58/2025/HS-ST ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 58/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 23/10/2024.
