|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 58/2025/HS-ST Ngày 13-3-2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Thùy Linh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Quang
Ông Đinh Xuân Dậu
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hoài Diễm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom tham gia phiên tòa: Ông Phan Đăng Định - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Trảng Bom xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 21/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 01 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2025 và Thông báo số 01/TB-TA ngày 25/02/2025 về việc dời thời gian mở phiên lại phiên tòa đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Diễm T, tên gọi khác: Không; sinh ngày: 08/9/1996 tại: Cà Mau.
Nơi đăng ký thường trú: Ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nơi cư trú: Ấp T, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh G, sinh năm 1970 và bà Trần Thị P, sinh năm 1972; chồng Vũ Quang T1 (đã ly hôn) có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2018, con nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 30/8/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại giam Công an tỉnh Đ. (Có mặt)
2. Lê Nhật Q, tên gọi khác: Không; sinh ngày 13/6/1992 tại Đồng Nai.
Nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Ấp Q, xã Q, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Không, trình độ học vấn: 7/12; dân tộc Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Việt H, sinh năm 1959 và bà Đoàn Thị Thanh T2, sinh năm 1962. Bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án: Ngày 31/12/2019 bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xử phạt 01 năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/9/2020. Bị cáo đã đóng 20.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm, còn lại 180.000 đồn án phí hình sự sơ thẩm bị cáo chưa chấp hành.
Tiền sự: Không
Nhân thân: Ngày 30/3/2011 bị Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xử phạt 04 năm tù về tội “cướp tài sản”, 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt chung Lê Nhật Q phải chấp hành là 04 năm 06 tháng tù. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 14/7/2014.
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 30/8/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại giam Công an tỉnh Đ. (Có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Việt H, sinh năm 1959 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp Q, xã Q, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
- Người làm chứng: Chị Dương Thị Tuyết N, sinh năm 1975 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Khu phố D, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Nhật Q và Nguyễn Diễm T là đối tượng nghiện ma túy đá. Vào khoảng 01 giờ ngày 30/8/2024, T gặp D (không rõ nhân thân, lai lịch) mua 01 gói ma túy giá 1.500.000 đồng ở thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Sau đó, T đem ma túy về phòng trọ ở ấp Q, xã Q, huyện T, tỉnh Đồng Nai sử dụng hết một ít. Sau đó có một người thanh niên (không rõ nhân thân lai lịch) liên lạc qua Facebook của T đặt mua ma túy đá. T lấy một ít ma túy vừa mua được cho vào 01 gói nylon hàn kín có kích thước 1,5x3cm. Số ma túy còn lại T bán cho người thanh niên ở gần trường tiểu học T3 thuộc thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai với giá 1.600.000 đồng. Bán ma túy xong, T đi về phòng trọ ở xã Q nằm ngủ. Khoảng 20 giờ ngày 30/8/2024, T đang ở phòng trọ thuộc ấp Q, xã Q, huyện T, tỉnh Đồng Nai thì S (chưa rõ nhân thân lai lịch) có tên Facebook là “Sơn Họ Nguyễn” liên lạc qua Facebook cho T tên “Nhã N1” đặt mua ma túy đá. T đồng ý bán cho S 01 bịch ma túy với giá 450.000 đồng và hẹn giao ma túy cho S khu vực nhà nghỉ “Ngọc Trâm” thuộc khu phố D, thị trấn T, huyện T. T lấy gói ma túy kích thước 1,5cmx3cm cuộn băng keo đen xung quanh rồi lấy mảnh giấy màu trắng cuộn gói ma túy lại và cầm gói ma túy trong lòng bàn tay trái. T dùng điện thoại Iphone 14 promax màu tím gắn sim số 0328085119 nhắn tin cho Q qua Zalo với nội dung “Ra mo cua; T ship đồ”. Q biết T nhờ Q chở T đi bán ma túy nên Q điều khiển xe mô tô biển số 60H1 – 363.84 đến phòng trọ để chở T đi bán ma túy. Sau khi đến phòng trọ Q chạy xe theo chỉ dẫn của T, đi được khoảng 100m thì T đưa mảnh giấy có gói ma túy bên trong cho Q và nói Q cầm giúp, Q hỏi là gì thì T nói là ma túy đá nên Q biết T đưa ma túy cho Q cầm giúp để bán lại cho S. Khi đến gần nhà nghỉ N2 thì T gọi lại cho S qua Facebook nhưng S không nghe máy. T nói Q đi vào nhà nghỉ “Ngọc Trâm” để tìm xem S có ở trong nhà nghỉ không. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày Q chở T vào trong nhà nghỉ gặp bà N (là chủ nhà nghỉ) để hỏi tin tức về S thì lực lượng Công an đi vào kiểm tra, thấy vậy Q ném gói giấy chứa ma túy vào tường thì gói ma túy rơi xuống đất chỗ chân Q đang đứng, Q lấy chân trái đè lên gói ma túy thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện thu giữ. Công an thị trấn T lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và chuyển hồ sơ đến Công an huyện T giải quyết theo quy định. Quá trình điều tra Q và T khai nhận hành vi của mình như trên.
Quá trình điều tra T còn khai nhận khoảng 01 tháng trước ngày bị bắt, T cũng đã bán cho S 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng ở khu vực Vườn Ngô thuộc ấp T, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
Tại Kết luận giám định số: 1748/KL-KTHS ngày 06/9/2024 của Phòng K - Công an tỉnh Đ, kết luận: Mẫu chất màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma tuý, có khối lượng: 0,4026gam (không phẩy bốn không hai sáu gam), loại: Methamphetamine. (Bút lục 10).
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Lê Nhật Q và Nguyễn Diễm T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” để điều tra theo quy định.
Vật chứng vụ án và xử lý vật chứng:
- + Phong bì chứa ma túy được niêm phong sau giám định số 1748/KL-KTHS ngày 06/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ, 01 mảnh giấy màu trắng sử dụng vào việc phạm tội.
- + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S21 Ultra 5G, gắn sim số 0332574992 và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 promax màu tím gắn sim số 0328085119 (đã qua sử dụng) sử dụng vào việc phạm tội.
- + Xe mô tô biển số 63H1-363.84 Quang sử dụng đi bán ma túy là của ông Lê Việt H, ông H không biết Q sử dụng xe mô tô để đi bán ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại cho ông H (Bút lục 112).
Tại Cáo trạng số 42/CT-VKSTB ngày 20 tháng 01 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom đã truy tố Nguyễn Diễm T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, truy tố Lê Nhật Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), tuyên bố bị cáo Nguyễn Diễm T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù đến 08 (tám) năm tù.
- - Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), tuyên bố bị cáo Lê Nhật Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù đến 03 (ba) năm tù.
Về xử lý vật chứng:
- + Đối với phong bì chứa ma túy được niêm phong sau giám định số 1748/KL-KTHS ngày 06/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ, 01 mảnh giấy màu trắng sử dụng vào việc phạm tội đề nghị Tòa án tịch thu tiêu hủy.
- + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S21 Ultra 5G, gắn sim số 0332574992 và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 promax màu tím gắn sim số 0328085119 (đã qua sử dụng) sử dụng vào việc phạm tội đề nghị Tòa án tịch thu sung công.
- + Xe mô tô biển số 63H1-363.84 Quang sử dụng đi bán ma túy là của ông Lê Việt H, ông H không biết Q sử dụng xe mô tô để đi bán ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại cho ông H là có căn cứ.
Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội. Các bị cáo thống nhất về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với các bị cáo. Các bị cáo không có ý kiến hay tranh luận gì khác.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Không.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng hình sự:
- [1.1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- [1.2] Đối với sự vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng tại phiên toà: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên toà. Xét thấy người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng đã có lời khai ở Cơ quan điều tra và việc vắng mặt của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Nên căn cứ vào Điều 292 và 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng.
- [2] Lời khai nhận tội của các bị cáo Nguyễn Diễm T và Lê Nhật Q có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của bản thân, không có sự mâu thuẫn; phù hợp với nội dung bản Cáo trạng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án nên đã đủ cơ sở xác định:
Vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 30/8/2024, tại nhà nghỉ N2" ở khu phố D, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Lê Nhật Q và Nguyễn Diễm T có hành vi bán 0,4026gam ma túy, loại: Methamphetamine. Cho đối tượng tên S thì bị Công an thị trấn bắt quả tang. Vào lúc 01 giờ 30 phút cùng ngày T bán 01 gói ma túy cho một người thanh niên (không rõ nhân thân lai lịch) ở gần trường tiểu học T3 thuộc thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai với giá 1.600.000 đồng. Ngoài ra, trong khoảng tháng 7/2024, T cũng đã bán cho đối tượng tên S 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng ở khu vực Vườn Ngô thuộc ấp T, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Diễm T đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Hành vi của bị cáo Lê Nhật Q đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom truy tố các bị cáo theo tội danh và điểm, khoản, Điều nêu trên là có căn cứ đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Hành vi phạm tội của bị cáo Lê Nhật Q là nghiêm trọng, của bị cáo Nguyễn Diễm T là rất nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của các bị cáo xâm phạm tới chính sách độc quyền của nhà nước về quản lý chất ma túy. Xâm phạm đến chính sách của Nhà nước về đấu tranh và loại bỏ ma túy ra khỏi cuộc sống xã hội và gây mất trật tự an ninh tại địa phương. Việc mua bán trái phép chất ma túy là nguyên nhân dẫn đến những thiệt hại về tài sản, là nguồn lây lan nhiều căn bệnh nguy hiểm, là nguyên nhân gia tăng các loại tội phạm về hình sự.
Các bị cáo là người đã trưởng thành đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật, biết tác hại của ma túy đối với sức khoẻ bản thân và đối với xã hội, nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Diễm T là đối tượng nghiện ma túy. Trước khi phạm tội bị cáo Lê Nhật Q đã từng bị Tòa án xét xử về các tội Trộm cắp tài sản, cướp tài sản, tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có chưa được xóa án tích, nhưng bị cáo không tu dưỡng sửa chữa bản thân mà vẫn tiếp tục phạm tội.
Vai trò của từng bị cáo: Các bị cáo cùng thực hiện hành vi phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp đồng phạm nhưng ở mức độ giản đơn. Bị cáo T là người chủ động rủ rê bị cáo Q. Bị cáo Q biết T đi giao bán ma túy cũng đồng ý tham gia, trực tiếp chở T đến địa chỉ nhà nghỉ N2” để bán ma túy.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Lê Nhật Q phạm tội thuộc trường hợp tái phạm có tình tiết tăng nặng theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[7] Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất mức độ và hành vi phạm tội của các bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn để cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
[8] Về xử lý vật chứng:
- - Tịch thu tiêu hủy phong bì chứa ma túy được niêm phong sau giám định số 1748/KL-KTHS ngày 06/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ, 01 mảnh giấy màu trắng sử dụng vào việc phạm tội.
- - Tịch thu sung công 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S21 Ultra 5G, gắn sim số 0332574992 và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 promax màu tím gắn sim số 0328085119 (đã qua sử dụng) sử dụng vào việc phạm tội.
- + Xe mô tô biển số 63H1-363.84 Quang sử dụng đi bán ma túy là của ông Lê Việt H, ông H không biết Q sử dụng xe mô tô để đi bán ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại cho ông H là có căn cứ.
[9] Về vấn đề khác:
Đối với đối tượng tên D có hành vi bán ma túy cho bị cáo Nguyễn Diễm T, bị cáo khai không rõ nhân thân lai lịch Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.
[10] Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[11] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về các vấn đề trong vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh và hình phạt:
- - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Diễm T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo Nguyễn Diễm T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn từ tính từ ngày 30/8/2024.
- - Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Tuyên bố bị cáo Lê Nhật Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo Lê Nhật Q 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/8/2024.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy đựng trong phong bì được niêm phong sau giám định số 1748/KL-KTHS ngày 06/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ, 01 mảnh giấy màu trắng đã qua sử dụng.
- - Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S21 Ultra 5G, gắn sim số 0332574992 có số seri 8984048000061395302 và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 promax màu tím gắn sim số 0328085119 (đã qua sử dụng) có số seri 8984048000905054463.
- Vật chứng nêu trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bom theo Quyết định chuyển vật chứng số 30/QĐ-VKS-TB ngày 20/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, Biên bản việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20 tháng 01 năm 2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bom.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Buộc bị cáo Nguyễn Diễm T và Lê Nhật Q mỗi người phải nộp 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa cụ liên quan ông Lê Việt H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Thùy Linh |
7
Bản án số 58/2025/HS-ST ngày 13/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 58/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Diễm T và Lê Nhật Q phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy
