TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 58/2025/HS-ST Ngày: 05-03-2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Tín
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Văn Khanh
- Ông Vương Tấn Độ
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Mai Lệ - Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Trường Vũ An - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 32/2025/TLST-HS ngày 15 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 74/2025/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo :
Nguyễn Văn T; sinh năm 2002, tại: C; Hộ khẩu thường trú: Khu vực L, phường T, quận T, thành phố C; Chỗ ở: Số 280 đường V, phường B, quận B, Thành phố H; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Phục vụ Karaoke; trình độ học vấn: 02/12; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1972 và bà Trần Thị Ngọc T, sinh năm 1977; hoàn cảnh gia đình: Chưa có vợ, tiền sự: Không; tiền án: Không. Bị cáo bị bắt ngày 07/8/2024(Có mặt).
Người làm chứng:
- Ông Diệp Chí T, sinh năm 1988; Trú tại: Số 27/6 đường N, phường T, quận B, Thành phố H(Vắng mặt)
- Ông Lại Hùng V, sinh năm 1994; Trú tại: Số 88 đường B, phường T, quận B, Thành phố H(Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 04/8/2024, tại quán cà phê L tại địa chỉ 181 V, phường B, quận B, Nguyễn Văn T mua ma túy của một người đàn ông tên T (không rõ nhân thân lai lịch) với giá 2.000.000 đồng, mục đích để sử dụng cho bản thân.
Đến khoảng 02 giờ 10 phút ngày 07/08/2024, khi Nguyễn Văn T đứng trước chung cư T địa chỉ 449 N, phường T, quận B, tổ 363 - Công an quận B kiểm tra giấy tờ tùy thân của T phát hiện trong túi quần phía trước bên phải có 01 gói nylon chứa tinh thể nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và đưa T về trụ sở Công an phường T để làm việc. Sau đó vụ việc được chuyển lên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B để điều tra, xử lý theo thẩm quyền.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B, Nguyễn Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Theo Bản kết luận giám định số 9446/KL-KTHS, ngày 15/08/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố H, kết luận:
- 02 viên nén màu xám được ký hiệu mẫu m1 cần giám định (đã nêu ở mục II.1) đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 1,0130 gam (một phẩy không một ba không gam) loại MDMA.
- Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m2 cần giám định (đã nêu ở mục II.2) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,7192 gam, loại Ketamine.
Vật chứng thu giữ:
- 01 (một) gói được niêm phong bên ngoài có các chữ ký ghi tên Nguyễn Văn T, Diệp Chí T (người chứng kiến), Nguyễn T (Điều tra viên) và hình dấu Công an phường T, quận B.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu REALME 3 màu xanh, số thuê bao 0708397xxx. SỐ IMEI 1: 868236048787xxx. SỐ IMEI 2: 868236048787xxx, T sử dụng liên lạc với gia đình, không dùng để liên lạc mua ma túy.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như kết luận điều tra và cáo trạng truy tố.
Tại bản cáo trạng số: 28/CT-VKS-QBT ngày 10/01/2025 Viện kiểm sát nhân dân quận B đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận B sau khi phân tích nội dung vụ án, phân tích chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, các tình tiết định tội, định khung hình phạt, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249 điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy"
Về xử lý vật chứng đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a Khoản 1 Điều 46, điểm a, c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, điểm a, c Khoản 2, điểm a Khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong bên ngoài có các chữ ký ghi tên Nguyễn Văn T, Nguyễn T (Điều tra viên), Diệp Chí T (Người chứng kiến) và hình dấu Công an phường T, quận B.
- Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu REALME 3 màu xanh, số thuê bao 0708397xxx. SỐ IMEI 1: 868236048787xxx. SỐ IMEI 2: 868236048787xxx.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]Trong quá trình điều tra truy tố bị cáo Điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận B, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận B được phân công điều tra giải quyết vụ án đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục qui định của Bộ luật tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận, nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của điều tra viên, kiểm sát viên, do đó các hành vi, quyết định tố tụng của họ đã thực hiện phù hợp với quy định của pháp luật.
[2]Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với nhau, với lời khai của, người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, tang vật vụ án được thu giữ, phù hợp với bản kết luận điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra, bản cáo trạng của Viện kiểm sát, các tài liệu chứng cứ khác thu được trong hồ sơ vụ án đối chiếu với các điều luật tương ứng do Bộ luật hình sự qui định. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở pháp lý để kết luận: Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội danh và hình phạt được qui định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung 2017.
[3] Xét hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện là cố ý và nguy hiểm cho xã hội. Bởi lẽ ma túy là chất độc hại gây nghiện ảnh hưởng đến sức khỏe con người và ảnh hưởng đến sự phát triển của cộng đồng xã hội, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, đã xâm phạm và làm ảnh hưởng đến chính sách quản lý kinh tế, an ninh quốc gia, gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo do chay lười lao động, thích hưởng thụ nên sớm đi vào con đường nghiện ngập. Mặt khác ma túy còn làm người sử dụng tự hủy hoại bản thân mà còn ảnh hưởng đến kinh tế gia đình làm cho xã hội phải gánh chịu hậu quả to lớn do ma túy để lại, góp phần làm gia tăng các loại tội phạm khác, làm lây lan những căn bệnh truyền nhiễm nguy hiểm đối với người nghiện ma túy.
Mặc dù bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy, là vi phạm pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm và nếu vi phạm sẽ bị xử lý nghiêm khắc, nhưng bị cáo vẫn ngang nhiên Tàng trữ trái phép chất ma túy, bất chấp những qui định của pháp luật, điều đó thể hiện ý thức bị cáo rất xem thường pháp luật. Do vậy, Hội đồng
xét xử xét thấy cần thiết phải có mức hình phạt thật nghiêm khắc đối với bị cáo, cần có một khoảng thời gian dài cách ly bị cáo ra khỏi xã hội nhằm tạo điều kiện cho bị cáo học tập cải tạo, từ bỏ con đường nghiện ngập mà phấn đấu trở thành người tốt hơn sau này biết tôn trọng pháp luật đồng thời cũng nhằm răn đe và phòng ngừa tội phạm chung. Bị cáo, tàng trữ 02 chất ma túy qua giám định có khối lượng 1,01303g loại MDMA và 1,7192g loại Ketamine. Do dó, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung 2017 để truy tố bị cáo là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
[4] Xét về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Xét bị cáo có nhân thân tốt, bản thân chưa có tiền án tiền sự tại cơ quan điều tra và qua diễn biến tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thật thà khai báo, thành khẩn nhận tội, tỏ ra ăn năn hối cải Hội đồng xét xử cũng cân nhắc giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung 2017.
[5] Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự Hội đồng xét xử xét tính chất của vụ án nên miễn phạt bổ sung.
[6] Về vật chứng vụ án: Đối với 01 gói niêm phong bên ngoài có các chữ ký ghi tên Nguyễn Văn T, Nguyễn T (Điều tra viên), Diệp Chí T (Người chứng kiến) và hình dấu Công an phường T, quận B. Qua giám định là ma túy ở thể rắn loại MDMA có khối lượng 1,0130g và Ketamine có khối lượng 1,7192 g là vật Nhà nước cấm lưu hành sử dụng nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu REALME 3 màu xanh, số thuê bao 0708397xxx. SỐ IMEI 1: 868236048787xxx. SỐ IMEI 2: 868236048787xxx là tư vật của bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định trả lại cho bị cáo.
[8]Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm i Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 02(hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 07/8/2024.
Căn cứ Điều 46, điểm a, c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a Khoản 2, điểm a Khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong bên ngoài có các chữ ký ghi tên Nguyễn Văn T, Nguyễn T (Điều tra viên), Diệp Chí T (Người chứng kiến) và hình dấu Công an phường T, quận B.
Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu REALME 3 màu xanh, số thuê bao 0708397xxx. SỐ IMEI 1: 868236048787xxx. SỐ IMEI 2: 868236048787xxx.
(Theo phiếu nhập kho vật chứng số NK25/111TV ngày 06/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự quận B)
Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự.
Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc Hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
3. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng, nộp tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Tín |
Bản án số 58/2025/HS-ST ngày 05/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 58/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 02(hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 07/8/2024.
