trending_up Gợi ý tra cứu
  • history Quy định về thời giờ làm việc và nghỉ ngơi
  • search Án lệ về tranh chấp tài sản thừa kế
  • search Thuế thu nhập cá nhân khi bán nhà đất
  • search Lợi ích khi đăng ký tài khoản VNeID cấp 2
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2024/HS-ST

Ngày 16 - 12 -2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhiện.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Văn Danh.
  2. Ông Lâm Văn Út.

Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Tú Lệ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Luận – Kiểm sát viên.

Ngày 16-12-2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành tiến hành mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 53/2024/HSST, ngày 30/10/2024; theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 12 năm 2024 đối với:

1. Bị cáo: Danh Minh D, sinh ngày 01/01/1988; Nơi sinh: tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: Ấp P, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: Không biết chữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Khmer; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông Danh K (c) và bà Lý Thị L (c); Vợ: Danh Thị P; Con: 02 người, lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân Vào ngày 15/02/2024 bị Công an huyện C, tỉnh Sóc Trăng ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 3.000.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản. Ngày 10/5/2024, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng tuyên phạt 01 năm 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản; Bị cáo đang chấp hành án tại nhà tạm giữ Công an huyện C trong một vụ án khác, từ ngày 16/01/2024 cho đến nay. (Có mặt)

2. Bị cáo: D, sinh ngày 01/01/1991; Nơi sinh: tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: Áp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 01/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Khmer; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông Danh Đ(s) và bà Lý Thị H(s); Vợ: Không; Con: Không; Tiền án: Có 01 tiền án, vào ngày 18/11/2020, bị Tóa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Đắk Nông xử phạt 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, chấp hành xong ngày 17/02/2021 (chưa được xóa án tích); Nhân thân: Vào ngày 17/5/2024, bị Tóa án nhân dân huyện C, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 01 năm tù về tội trộm cắp tài sản (chưa chấp hành án);bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 13/6/2024 tại Nhà tạm giữ công an huyện C, tỉnh Sóc Trăng cho đến nay. (Có mặt).

3. Bị cáo: Dương Thanh T, sinh ngày 08/6/2002; Nơi sinh: tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 04/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Khmer; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông Dương Si N (s) và bà Lâm Thị Ngọc K1 (s); Vợ: Không; Con: Không; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Vào ngày 08/6/2023 bị Công an xã P, huyện C, tỉnh Sóc Trăng ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Vào ngày 15/02/2024 bị Công an huyện C, tỉnh Sóc Trăng ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 3.000.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản. Vào ngày 12/7/2023 bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng. Ngày 13/3/2024 bị Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc với thời hạn 20 tháng;bị cáo bị tạm giam từ ngày 18/6/2024 tại Nhà tạm giữ công an huyện C, tỉnh Sóc Trăng cho đến nay. (Có mặt).

4. Bị cáo: Liêu Cường, sinh ngày 10/8/1994; Nơi sinh: tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: Ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 05/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Khmer; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông Liêu C (s) và bà Sơn Thị Y(c); Vợ: Không; Con: Không; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Vào ngày 26/01/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 02 năm tù về tội tiêu thu tài sản do người khác phạm tội mà có, quy định tại khoản 2 Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 1999 (đã được xóa án tích) ;bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 14/6/2024 tại Nhà tạm giữ công an huyện C, tỉnh Sóc Trăng cho đến nay. (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Giữa Danh Minh D, Danh D và Liêu C1, cùng nơi cư trú: ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng và Dương Thanh T, nơi cư trú: ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Sóc Trăng, có mối quan hệ là bạn bè quen biết nhau, không có nghề nghiệp ổn định và thường xuyên sử dụng trái phép chất ma túy.

Vào khoảng 19 giờ ngày 15/4/2023, Danh Minh D điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 60K6 - 9567 chở Dương Thanh T đi đến bờ đê gần khu công nghiệp A và để xe chỗ cây me rồi đi bộ đến cái chòi bỏ hoang không người ở gần công ty xử lý nước thải, thuộc ấp P, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng, một lúc sau thì Danh D điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 64H9 - 2327 chở Liêu C1 cũng đi đến. Sau đó, Danh Minh D, Danh D, Liêu C1 và Dương Thanh T cùng nhau tổ chức uống rượu tại cái chòi nêu trên. Trong lúc đang uống rượu thì Danh Minh D nhìn thấy cái nỏ để sử dụng ma túy của ai để lại đây thì cầm lên xem. Sau đó, Danh Minh D mới rủ Danh D, T và C1 cùng nhau mỗi người hùn số tiền 50.000 đồng để đi mua ma túy về cùng nhau sử dụng, thì tất cả đồng ý. Sau đó, Danh D mới điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 64H9-2327 chở Dương Thanh T đi mua ma túy, khi đến nhà nhà trọ T3, trên tuyến Quốc lộ F, thuộc ấp P, xã A, huyện C, thì Danh D dừng xe lại đứng ở ngoài, còn T đi bộ vào nhà trọ nêu trên rồi mua ma túy của một người thanh niên khoảng 25 tuổi, dáng người mập không rõ họ tên và địa chỉ đang ở nhà trọ với số tiền 200.000 đồng rồi cả hai quay về cái chòi, sau đó cả 04 người cùng nhau hút số ma túy trên, nhưng hút không hết, nên Minh D để cái nỏ tại chòi trên, rồi tất cả cùng nhau ra về.

Đến khoảng 19 giờ ngày 17/4/2023, Danh Minh D tiếp tục điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 60K6 - 9567 chở Dương Thanh T và Danh D tiếp tục điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 64H9 - 2327 chở Liêu C1 đi đến cái chòi nêu trên và cùng nhau tổ chức uống rượu. Trong lúc đang uống rượu thì Danh Minh D lấy cái nỏ đã dùng để hút ma túy ngày 15/4/2023 ra để tiếp tục bốn người cùng hút ma túy. Do còn ít ma túy nên Danh Minh D mới rủ Danh D, T và C1 tiếp tục mỗi người hùn 50.000 đồng để đi mua ma túy về sử dụng, thì tất cả đồng ý, do Danh D, C1 và T không có tiền nên Minh D mới cho mỗi người mượn trước 50.000 đồng, rồi đưa tiền cho Danh D chở T đi mua ma túy. Sau đó, Danh D tiếp tục điều khiển xe chở T đến nhà trọ T3 đậu xe ở ngoài để T đi vào mua ma túy của một người thanh niên khoảng 25 tuổi dáng người mập không rõ họ tên với số tiền 200.000 đồng, rồi cả hai mang về cái chòi để tiếp tục cùng nhau sử dụng trái phép chất ma túy, trong lúc đang sử dụng và do chuyền tay nhau nhiều lần để hút nên cái nỏ bị bể. Sau khi sử dụng ma túy xong, Danh Minh D, Danh D và Dương Thanh T đi bộ vào khu công nghiệp A gần đó, thuộc ấp P, xã A, huyện C để tìm tài sản lấy trộm, nhưng bị bảo vệ khu công nghiệp phát hiện nên cả ba người quay lại cái chòi, lúc này Minh D tiếp tục rủ Danh D, T và C1 hùn tiền mua ma túy để sử dụng, đồng thời nói ai quen biết mượn cái nỏ để sử dụng luôn thì T dùng xe mô tô chở C1 đi mua ma túy, T tiếp tục mua ma túy của người thanh niên mà T đã mua 02 lần trước đó tại nhà trọ T3 với số tiền 200.000 đồng.

Sau đó, C1 điều khiển xe mô tô chở T đến khu vực cầu S, thuộc phường G, thành phố S rồi C1 sử dụng điện thoại điện cho người thanh niên tên T1 không xác định họ tên và địa chỉ cụ thể để mượn T1 cái nỏ về sử dụng ma túy, một lúc sau T1 đi ra đưa cho C1 cái nỏ, sau đó C1 và T đi về cái chòi và lấy ma túy bỏ vào nỏ rồi cùng nhau sử dụng, nhưng lần này T không sử dụng mà chỉ có Minh D, Danh D và C1 sử dụng. Đến khoảng 01 giờ ngày 18/4/2023, Minh D, Danh D và T đi bộ vào khu công nghiệp A, rồi đột nhập vào công ty TNHH H1 trộm dây điện tại nhà kho của công ty, rồi cả bốn người đi về nhà, khi về đến nhà thì C1 đi về nhà mình ngủ, còn Minh D, Danh D và T mang số dây điện mới trộm được ra đốt để lấy đồng, thì bị lực lượng Công an xã A, huyện C trong lúc đang tuần tra phát hiện nên lập biên bản, thu giữ vật chứng có liên quan, đồng thời mời tất cả và Liêu C1 cùng về trụ sở để làm việc, qua test nhanh thì tất cả đều dương tính với ma túy loại Methamphetanine và Liêu C1 cũng tự nguyện giao nộp cái nỏ mà cả bốn người cùng nhau sử dụng trước đó, nhận thấy có dấu hiệu tội phạm nên Công an xã A đã niêm phong các vật chứng có liên quan và chuyển hồ sơ đến Cơ quan CSĐT Công an huyện C thụ lý, giải quyết.

Tại Bản kết luận giám định số 41/KLMT-KTHS, ngày 27/3/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh S kết luận: Mẫu chất rắn màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,0033 gam (không phẩy không không ba ba gam, không kể bao bì), loại Methamphetamine.

Tại bản cáo trạng số 55/CT-VKS-CT ngày 28/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành đã truy tố các bị cáoDanh Minh D, Danh D, Dương Thanh T và Liêu C1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015( Được sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận Cáo trạng số 55/CT-VKS-CT, ngày 28/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng tuyên bố các bị cáo Danh Minh D, D, Dương Thanh T và Liêu C1 phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và đề nghị áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255; các điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 58; Điều 38 và khoản 1 Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017) đối với bị cáoDanh Minh D xử phạt bị cáo từ 09 năm 06 tháng tháng đến 10 năm tù; Tổng hợp hình phạt tại bản án số 18/2024/HS-ST ngày 10/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng là 01 năm 06 tháng tù. Buộc bị cáo phải chấp hành từ 11 năm đến 11 năm 06 tháng tù; đề nghị áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255; các điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 50; Điều 58; Điều 38 và khoản 1 Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Danh D, xử phạt bị cáo Danh D từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm tù; Tổng hợp hình phạt tại bản án số 20/2024/HS-ST ngày 17/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng là 01 năm tù, buộc bị cáo phải chấp hành từ 09 năm 06 tháng đến 10 năm tù; áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017) đối với Dương Thanh T và Liêu C1 xử phạt bị cáo Dương Thanh T từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm tù; bị cáo Liêu C1 từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù;

Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo Danh Minh D, D, Dương Thanh T, Liêu C1 có hoàn cảnh gia đình khó khăn, các bị cáo đi làm thuê, các bị cáo không có tài sản, thu nhập không ổn định đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo;

Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy:01 túi da màu xám, kích thước 16,5 x 10cm. Bên trong túi da có chứa một cái nỏ dài 19cm, có một đầu cong và một ống hút bằng nhựa dài 25cm có một đầu cong, bên trong ống nỏ có chứa chất rắn màu trắng.

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sựtịch thu nộp ngân sách nhà nước :01 xe mô tô, biển kiểm soát: 64H9-2327, số máy: VHLFM152FMH-V011032265. Xe đã qua sử dụng đang tạm giữ của Danh D.

Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận tòa bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Trong phần lời nói sau cùng các bị cáo trình bày ý kiến xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, tỉnh Sóc Trăng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo Danh Minh D, Danh D, Dương Thanh T và Liêu C1 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của các bị cáo. Lời thừa nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với các lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, bản kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác thể hiện trong hồ sơ vụ án. Cho nên, có căn cứ để xác định:

Vào các ngày 15/4/2023 và 17/4/2023, bị cáo Danh Minh D đã 03 lần khởi xướng, rủ rê các bị cáo Danh D, Dương Thanh T và Liêu C1 cùng nhau hùn tiền để đi mua ma túy về sử dụng, thì tất cả đồng ý. Sau đó Danh D, Dương Thanh T và Liêu C1 cùng nhau đi mua ma túy của người thanh niên tại nhà trọ T3, thuộc ấp P, xã A, huyện C rồi mang về cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy sau khi sử dụng ma túy xong thì các bị cáo Minh D, Danh D và T đi bộ vào Khu công nghiệp để tìm tài sản trộm thì bị lực lượng công an xã A, huyện C phát hiện mời làm việc qua test nhanh thì các bị cáo có dương tính với ma túy loại Methamphetamine và Liêu C1 đã tự nguyện giao nộp cái nỏ mà các bị cáo cùng nhau tổ chức sử dụng ma túy trước đó qua giám định tổng khối lượng chất ma túy là 0,0033 gam, loại Methamphetamine. Như vậy các bị cáo phạm tội 02 lần trở lên và đối với 02 người trở lên.

Do đó, Cáo trạng số 55/CT-VKS-CT ngày 28/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành đã truy tố các bị cáo Danh Minh D, Danh D, Dương Thanh T và Liêu C1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015 (Được sửa đổi bổ sung năm 2017) là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo Danh Minh D, Danh D, Dương Thanh T và Liêu C1 là rất là nguy hiểm cho bản thân, gia đình và xã hội. Các bị cáo là người có đầy đủ nhận thức và năng lực trách nhiệm hình sự, các bị cáo phải biết rằng ma túy là chất độc hại, gây ảnh hưởng đến sức khỏe của chính bản thân của các bị cáo và là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tội phạm khác trong xã hội nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nhằm thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân và bạn bè. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy, là khách thể được pháp luật hình sự Việt Nam bảo vệ. Do đó, cần phải có một mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để các bị cáo cải tạo, học tập, sửa chữa sai lầm và góp phần răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.Trong vụ án này, khi thực hiện hành vi phạm tội giữa các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công vai trò cụ thể, nên phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Để cá thể hóa hình phạt của từng bị cáo, cần xét tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của từng bị cáo như sau:

[3.1] Đối với bị cáo Danh Minh D: Bị cáo giữ vai trò chính trong quá trình thực hiện các lần phạm tội trên, bị cáo là người đã chủ động rủ rê, lôi kéo các bị cáo Danh D, Liêu C1 và Dương Thanh T cùng tham gia thực hiện hành vi phạm tội vào các ngày 15/4/2023 và 17/4/2023. Đồng thời bị cáo Danh Minh D cũng là người cung cấp dụng cụ hút ma túy, trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội và cho các bị cáo còn lại mượn tiền để cùng nhau mua ma túy về sử dụng nêncần phải xử thật nghiêm cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung cho toàn xã hội. Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét đến các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, bị cáo không có tình tiết tăng nặng; bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ là sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo tự nguyện khai ra những lần phạm tội trước; bị cáo không có tiền án, tiền sự, bị cáo là người dân tộc khmer có trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn chế theo quy định tại điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm cho bị cáo một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

[3.2] Đối với bị cáo Danh D với vai trò vừa là người tực tiếp thực hiện hành vi phạm tội, vừa là giúp sức cho tội phạm được thực hiện, cụ thể: Bị cáo Danh D đã điểu khiển xe mô tô của mình chở Dương Thanh T đi mua ma túy hai lần; bị cáo phạm tội cố ý nên cần phải xử thật nghiêm cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung cho toàn xã hội. Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét đến các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự chobị cáo, bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa án tích và 01 bản án về tội trộm cắp tài sản chưa chấp hành án; bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ là sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo tự nguyện khai ra những lần phạm tội trước; bị cáo là dân tộc khmer có trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn chế theo quy định tại điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm cho bị cáo một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

[3.3] Đối với các bị cáo Dương Thanh T và Liêu C1 với vai trò vừa là người tực tiếp thực hiện hành vi phạm tội, vừa là giúp sức cho tội phạm được thực hiện, cụ thể: Bị cáo Dương Thanh T là người trực tiếp đi mua ma túy ba lần; bị cáo Liêu C1 khi cái nỏ hút ma túy bị vỡ thì Liêu C1 là người đã đi mượn cái nỏ khác về thay thế để sử dụng, để hút ma túy các bị cáo phạm tội cố ý nên cần phải xử thật nghiêm cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài để cải tạo, giáo dục các bị cáo và răn đe phòng ngừa chung cho toàn xã hội. Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét đến các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo, đối với bị cáo Dương Thanh T và Liêu C1 các bị cáo không có tình tiết tăng nặng; các bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ là sau khi phạm tội các bị cáo thành khẩn khai báo, các bị cáo tự nguyện khai ra những lần phạm tội trước; cácbị cáo là dân tộc khmer có trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn chế theo quy định tại điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm cho các bị cáo một phần hình phạt mà lẽ ra các bị cáo phải chịu là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

[4] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, các bị cáo Danh Minh D, Danh D, Dương Thanh T và Liêu C1 có hoàn cảnh gia đình khó khăn, các bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định, các bị cáo không có tài sản, nên Hội đồng xét xử thống nhất không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng:

[5.1] Đối với các vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội là vật cấm tàng trữ lưu hành, vật chứng không còn giá trị sử dụng Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021); điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự tịch thu tiêu hủy 01 túi da màu xám, kích thước 16,5 x 10cm. Bên trong túi da có chứa một cái nỏ dài 19cm, có một đầu cong và một ống hút bằng nhựa dài 25cm có một đầu cong, bên trong ống nỏ có chứa chất rắn màu trắng.

[5.2] Đối với vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội còn giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sựnăm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021) tịch thu nộp ngân sách nhà nước01 xe mô tô, biển kiểm soát: 64H9-2327, số máy: VHLFM152FMH-V011032265 của bị cáo Danh D.

[5.3] Đối với xe mô tô, biển kiểm soát 60K6-9567 mà bị cáo Danh Minh D sử dụng, do có liên quan đến vụ án “Trộm cắp tài sản” xảy ra ngày 22/7/2023 trên địa phận ấp P, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng, Cơ quan CSĐT Công an huyện C, tỉnh Sóc Trăng đã điều tra, xác minh làm rõ và Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng đã giải quyết trong một vụ án khác, nên không đặt ra xem xét.

[5.4] Đối với cái nỏ mà bị cáo Danh Minh D nhặt được và các bị cáo đã sử dụng để hút ma túy, sau khi cái nỏ bị vỡ thì bị cáo Danh Minh D đã ném bỏ xuống kênh nước gần đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã truy tìm nhưng không tìm thấy, nên không đặt ra xem xét.

[6] Đối với người thanh niên đã bán ma túy cho bị cáo Dương Thanh T tại nhà trọ T3 3 quá trình điều tra, bị cáo T khai nhận không rõ họ tên và địa chỉ người đã bán ma túy cho mình, T chỉ biết người này khoảng 25 tuổi, cao khoảng 1m60, dáng người mập. Đến nay, Cơ quan Cảnh sát điều tra vẫn chưa xác định được nhân thân lai lịch của người thanh niên này tên gì, ở đâu để triệu tập và làm việc. Sau này khi nào làm việc được, nếu có căn cứ sẽ xử lý sau.

[7] Đối với người thanh niên cho bị cáo Liêu C1 mượn cái nỏ tại khu vực cầu S, thuộc phường G, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng: quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C chỉ xác định được người này tên “Thư” khoảng 28 tuổi, cao khoảng 1m65, nước da ngâm, mặt dài, tóc dài nhưng đến nay Cơ quan điều tra vẫn chưa xác định được nhân thân lai lịch cũng như họ tên và địa chỉ của T1 ở đâu để tiến hành triệu tập và làm việc. Sau này khi nào làm việc được, nếu có căn cứ sẽ xử lý sau.

[8] Đối với hành vi trộm cắp tài sản của Danh Minh D, Danh D và Dương Thanh T vào ngày 18/4/2023 tại Công ty H1, thuộc ấp P, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng, đã được giải quyết trong một vụ án khác, nên không đặt ra để xem xét.

[9] Đối với ông Trần Thanh T2 là chủ nhà trọ T3 tại ấp P, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng quá trình điều tra đã chứng minh được, khi bị cáo Dương Thanh T đến nhà trọ mua ma túy của người thanh niên tại khu vực nhà trọ của mình thì ông Trần Thanh T2 không biết, cũng như ông không rõ họ tên và địa chỉ của người đã bán ma túy cho bị cáo T2. Do đó ông Trần Thanh T2 không liên quan đến vụ án, nên không đặt ra xem xét.

[10] Về án phí: Các bị cáo Danh Minh D, Danh D, Dương Thanh T và Liêu C1 là người bị kết án nên mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

[11] Lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[12] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Tuyên bố các bị cáo Danh Minh D, D, Dương Thanh T và Liêu C1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 255, điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017) đối với các bị cáo Danh Minh D, Dương Thanh T và Liêu C1.

Căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 255, điểm h khoản 1 Điều 52; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Danh D.

Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017) điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021).

Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021); điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Căn cứ vào các điều 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021).

  1. Xử phạt bị cáo Danh Minh D 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù. Áp dụng khoản 1 Điều 56; Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017), tổng hợp hình phạt tại bản án số 18/2024/HS-ST, ngày 10/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng là 01 năm 06 tháng tù. Buộc bị cáo phải chấp hành là 11 (mười một) năm tù. Thời hạn chấp hành án tính từ ngày 17/01/2024.
  2. Xử phạt bị cáo Danh D 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Áp dụng khoản 1 Điều 56; Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017), tổng hợp hình phạt tại bản án số 20/2024/HS-ST ngày 17/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng là 01 năm tù. Buộc bị cáo phải chấp hành là 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành án tính từ ngày 13/6/2024.
  3. Xử phạt bị cáo Dương Thanh T 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành án tính từ ngày 18/6/2024.
  4. Xử phạt bị cáo Liêu C1 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành án tính từ ngày 14/6/2024.
  5. Về xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ: Tịch thu tiêu hủy 01 túi da màu xám, kích thước 16,5 x 10cm. Bên trong túi da có chứa một cái nỏ dài 19cm, có một đầu cong và một ống hút bằng nhựa dài 25cm có một đầu cong, bên trong ống nó có chứa chất rắn màu trắng. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước đối với 01 xe mô tô, biển kiểm soát: 64H9-2327, số máy: VHLFM152FMH-V011032265 xe đã qua sử dụng.
  6. Về án phí: Xử buộc các bị cáo Danh Minh D, D, Dương Thanh T, và Liêu C1 mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
  7. Về quyền kháng cáo bản án: Các bị cáo Danh Minh D, D, Dương Thanh T, và Liêu C1 có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND huyện Châu Thành;
  • - CQĐT Công an huyện Châu Thành;
  • - Chi cục THADS huyện Châu Thành;
  • - TAND tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND tỉnh Sóc Trăng;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Nhiện

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 58/2024/HS-ST ngày 16/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 58/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Danh Minh D cùng đồng bọn phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger