|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN TỈNH ĐIỆN BIÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 58/2024/HS-ST
Ngày: 29/11/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Tuyến
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Lù Văn Lả
- Ông Mùa A Phềnh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hà - Thư ký Toà án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Lưu Ngọc Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 51/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Thào A S - Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1997, tại Điện Biên;
Nơi cư trú: Bản N, xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm nương;
Trình độ văn hoá (học vấn): 8/12; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Thào Chớ P và Con bà: Vàng Thị Dua P1; Vợ: Hờ Thị V; Con: có 04 người con, con lớn nhất sinh năm 2013, con nhỏ nhất sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; Bị cáo được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 18/9/2024 cho đến nay - Có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Lò Thị X - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đ (Có mặt).
* Nguyên đơn dân sự: Ủy ban nhân dân xã M, tỉnh Điện Biên.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lường Văn B - Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên.
Người đại diện theo ủy quyền của người đại diện theo pháp luật: Ông Lò Văn T - Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên (Vắng mặt có lý do).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Điện Biên.
- Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thái B1 - Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Điện Biên.
- Người đại diện theo ủy quyền của người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Gia T1 - Phó Trưởng phòng phụ trách Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Đ, tỉnh Điện Biên (Vắng mặt có lý do).
2. Chị Hờ Thị V - Sinh năm: 1996; Địa chỉ: Bản N, xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên (Có mặt).
3. Ông Thào A S - Sinh năm: 1982; Địa chỉ: Bản N, xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên (Vắng mặt có lý do).
- Người phiên dịch cho chị Hờ Thị V: Anh Sùng A M - Sinh năm: 2004; Địa chỉ: Khu V, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 05 giờ sáng một ngày đầu tháng 02 năm 2024, Thào A S một mình mang theo 02 con dao quắm, cơm nắm rồi điều khiển xe mô tô từ nhà ở bản N, xã M, huyện Đ đến khu vực cửa khẩu H thì để xe ở đó rồi cầm theo 02 con dao quắm, cơm nắm đi bộ đến khu vực rừng phòng hộ TXK (rừng tự nhiên thứ sinh gỗ núi đất lá rộng thường xanh và nửa rụng lá nghèo kiệt), có nhiều cây gỗ to nhỏ khác nhau, loại cây chủ yếu là Vối thuốc, T2 ngạnh, Bời lời..., tại khoảnh 6, tiểu khu H, thuộc bản N, xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên, do Ủy ban nhân dân xã M, huyện Đ quản lý và bảo vệ. Đến nơi khoảng 06 giờ cùng ngày, S dùng dao quắm phát những bụi cây và chặt các cây gỗ nhỏ từ dưới khe suối lên trên, từ trái qua phải, những cây gỗ to Sênh để lại. Chặt phá đến khoảng 12 giờ thì nghỉ ăn cơm đến khoảng 13 giờ Sênh tiếp tục dùng dao quắm chặt phá đến khoảng 17 giờ cùng ngày thì nghỉ đi về nhà. Ngày hôm sau S lại mang dao quắm, cơm nắm đến khu vực rừng đã chặt phá hôm trước, tiếp tục phát và chặt các cây đến khoảng 17 giờ cùng ngày thì về nhà và nghỉ 02 ngày. Sau đó khoảng 05 giờ sáng S điều khiển xe mô tô chở theo vợ là Hờ Thị V và con là Thào Thị D, sinh năm 2019 đi cùng và mang theo 02 chiếc dao quắm đi từ nhà đến khu vực cửa khẩu H thì để xe ở đó rồi cầm theo 02 con dao quắm đi bộ cùng vợ, con đến khu vực rừng đã chặt phá trước đó. Đến nơi khoảng 06 giờ cùng ngày, S một mình dùng dao quắm phát những bụi cây và chặt các cây gỗ nhỏ, vợ S thì trông con, đun nước và nấu cơm. Sênh chặt phá đến khoảng 12 giờ cùng ngày thì nghỉ ăn cơm cùng vợ con đến khoảng hơn 13 giờ thì tiếp tục dùng dao chặt phá các cây gỗ cho đến khoảng 17 giờ cùng ngày thì nghỉ và cùng vợ con về nhà. Đến sáng ngày hôm sau S lại chở vợ và con đi đến khu vực rừng đang phá tiếp tục một mình dùng dao quắm chặt các cây gỗ như ngày hôm trước đến khoảng 17 giờ cùng ngày thì cùng vợ, con về nhà. Đến tối cùng ngày S một mình đi bộ sang nhà chú ruột là Thào A S, ở bản N, xã M, huyện Đ mượn máy cưa xăng mang về nhà. Sáng ngày hôm sau S một mình đến khu vực rừng đã chặt phá trước đó dùng máy cưa xăng cắt hạ hết những cây gỗ to còn lại.
Đến đầu tháng 3/2024, S đi đến khu vực rừng đã chặt phá vào đầu tháng 02/2024 đốt hết các cây khô đã chặt phá trước đó mục đích để trồng lúa nương.
Ngày 10/5/2024, tổ công tác của Ủy ban nhân dân xã M, huyện Đ tiến hành tuần tra, kiểm tra rừng tại khu vực rừng thuộc bản N, xã M, huyện Đ, thì phát hiện diện tích rừng mà S đã chặt phá.
Ngày 17/5/2024, cơ quan chức năng tiến hành khám nghiệm hiện trường tại nơi Sênh đã chặt phá rừng trái phép ở khoảnh 6, tiểu khu H, thuộc bản N, xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Kết quả cho thấy trên diện tích rừng bị chặt phá đã bị đốt, thân cây gỗ bị cưa, chặt vẫn còn tại hiện trường; mức độ thiệt hại trên diện tích bị chặt phá 100%, diện tích là 3.590m².
Tại Kết luận giám định số: 38/KL-GĐ ngày 10/6/2024 của Chi cục kiểm lâm thuộc Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Đ kết luận: Khu rừng bị chặt phá trái pháp luật có diện tích 3.590m² tại khoảnh 6, tiểu khu H bản N, xã M, huyện Đ đến thời điểm tổ công tác tiến hành kiểm tra, khám nghiệm hiện trường có rừng tự nhiên, loại rừng phòng hộ; Trạng thái rừng tự nhiên thứ sinh gỗ núi đất lá rộng thường xanh và nửa rụng lá nghèo kiệt (ký hiệu TXK); Diện tích rừng bị chặt phá chưa giao, chưa cho thuê, hiện UBND xã M đang quản lý, bảo vệ.
Tại Kết luận định giá tài sản số: 23/KL-ĐGTS ngày 10/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ kết luận: Tổng thiệt hại trên diện tích 3.590m² bị chặt phá là 11.142.470 đồng.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận định giá trên của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ.
Trong quá trình điều tra nguyên đơn dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đề nghị Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng xử lý hành vi phạm tội của bị cáo theo quy định của pháp luật; bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và khẳng định hành vi trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: "Hủy hoại rừng" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 243 Bộ luật Hình sự.
Về vật chứng của vụ án: Ngày 13/11/2024 cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã chuyển vật chứng của vụ án sang cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Điện Biên gồm: 01 máy cưa xăng màu đỏ, nhãn hiệu Husqvarna 365, dài 108cm, chỗ rộng nhất 25cm, chỗ cao nhất 27cm; 01 con dao quắm lưỡi dao và chuôi dao bằng kim loại, cán bằng gỗ hình tròn, tổng chiều dài 84cm; 01 con dao quắm lưỡi dao và chuôi dao bằng kim loại, cán bằng gỗ hình tròn, tổng chiều dài 64cm.
Bản cáo trạng số: 240/CT-VKSHĐB ngày 12/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Thào A S về tội: "Hủy hoại rừng" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 243 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- * Về trách nhiệm hình sự:
- - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 243, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 36 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Thào A S từ 09 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ, về tội Hủy hoại rừng. Giao bị cáo cho UBND xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên để giám sát và giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã M trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Miễn khấu trừ thu nhập của bị cáo.
- - Không áp dụng hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 4 Điều 243 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
- - Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn đối với bị cáo.
- * Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 con dao quắm lưỡi dao và chuôi dao bằng kim loại, cán bằng gỗ hình tròn, tổng chiều dài 84cm, lưỡi dao dài 28cm, chuôi dao dài 11cm, cán gỗ dài 45cm, đường kính cán gỗ 3cm, bản rộng nhất của lưỡi dao 6cm, mỏ quắm 3cm; 01 con dao quắm lưỡi dao và chuôi dao bằng kim loại, cán bằng gỗ hình tròn, tổng chiều dài 64cm, lưỡi dao dài 27cm, chuôi dao dài 8cm, cán gỗ dài 29cm, đường kính cán gỗ 3cm, bản rộng nhất của lưỡi dao 4cm, mỏ quắm 3cm bị cáo sử dụng vào việc phạm tội. Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Thào A S 01 máy cưa xăng màu đỏ, nhãn hiệu Husqvarna 365, dài 108cm, chỗ rộng nhất 25cm, chỗ cao nhất 27cm.
- * Về bồi thường thiệt hại: Ủy ban nhân dân huyện Đ và Ủy ban nhân dân xã M, huyện Đ yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại trên diện tích rừng 3.590m² với số tiền là 11.142.470 đồng nộp vào ngân sách nhà nước. Ngày 21/10/2024 bị cáo đã nộp số tiền trên tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ. Ngày 15/11/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã nộp số tiền 11.142.470 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên. Vì vậy, đề nghị Sung Ngân sách Nhà nước đối với số tiền này.
- * Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại luận cứ bào chữa cho bị cáo ngày 29/11/2024 bà Lò Thị X đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 243, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điểu 36 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo 09 tháng cải tạo không giam giữ và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định tại đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án bởi vì: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, trình độ văn hóa thấp do đó nhận thức pháp luật còn hạn chế, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Ngoài lần phạm tội này bị cáo luôn chấp hành đúng pháp luật, ngoài ra bị cáo còn là lao động chính của gia đình. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại để khắc phục hậu quả; Ủy ban nhân dân huyện Đ và Ủy ban nhân dân xã M, huyện Đ đề nghị Cơ quan pháp luật xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng và bản luận tội của Kiểm sát viên; Bị cáo không bổ sung lời bào chữa.
Thực hiện lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận trong thời gian tháng 02 và tháng 3/2024, Thào A S đã có hành vi sửa dụng 02 con dao quắm bằng kim loại và 01 chiếc máy cưa xăng để chặt phá, hủy hoại 3.590m² rừng phòng hộ, tại khoảnh 6, tiểu khu H, thuộc bản N, xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên, do Ủy ban nhân dân xã M, huyện Đ quản lý và bảo vệ, mục đích để lấy đất trồng lúa nương. Gây thiệt hại 11.142.470 đồng.
Vì vậy hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: Hủy hoại rừng theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 243 Bộ luật Hình sự.
Khoản 1 Điều 243 Bộ luật hình sự quy định: “1. Người nào đốt, phá rừng trái phép hoặc có hành vi khác hủy hoại rừng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Rừng phòng hộ có diện tích từ 3.000 mét vuông (m²) đến dưới 7.000 mét vuông (m²)”.
Hành vi trên của Thào A S được chứng minh tại: Biên bản đo đếm diện tích, biên bản làm việc, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản tính toán trữ lượng rừng bị thiệt hại, kết luận định giá, kết luận giám định, sơ đồ hiện trường, bản ảnh khám nghiệm hiện trường, biên bản hỏi cung bị can, biên bản ghi lời khai, nguyên đơn dân sự và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác do Cơ quan điều tra tiến hành thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án.
Thào A S là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
Từ những phân tích trên, khẳng định Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên truy tố bị cáo Thào A S về tội: "Hủy hoại rừng" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 243 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội và có căn cứ pháp luật.
[2] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hành vi dùng dao quắm chặt và máy cưa xăng chặt phá rừng của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, bởi nó đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý, bảo vệ môi trường, chế độ bảo vệ và phát triển rừng (tài nguyên rừng), gây thiệt hại rất lớn đến môi trường sinh thái, làm gia tăng các biến đổi khí hậu do tác hại của việc hủy hoại rừng gây ra và xâm phạm đến tài sản của Nhà nước. Vì vậy, việc truy tố, xét xử và áp dụng mức hình phạt thỏa đáng đối với bị cáo là cần thiết, có như vậy mới có tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.
[3] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, không có tiền án, tiền sự. Nguyên nhân dẫn đến phạm tội là do bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật, muốn có đất để làm nương trồng lúa nên đã chặt phá rừng. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả xong; Ủy ban nhân dân huyện Đ và Ủy ban nhân dân xã M, huyện Đ đề nghị Cơ quan pháp luật xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo nên cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người dân tộc thiểu số, trình độ nhận thức pháp luật còn hạn chế, có nhân thân tốt và có nơi cư trú rõ ràng, ngoài lần phạm tội này bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú. Mặt khác, bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét thấy, bị cáo có khả năng tự cải tạo và nếu không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù thì không gây ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt Cải tạo không giam giữ đối với bị cáo, đồng thời giao cho chính quyền địa phương và gia đình giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành án cũng đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt sống có ích cho gia đình và xã hội.
Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo với mức hình phạt từ 09 tháng đến 01 năm cải tạo không giam giữ là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, phù hợp với quy định của pháp luật, cần chấp nhận.
Đối với đề nghị của người bào chữa về việc đề xử phạt bị cáo 09 tháng cải tạo không giam giữ và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về bồi thường thiệt hại: Ủy ban nhân dân huyện Đ và Ủy ban nhân dân xã M, huyện Đ yêu cầu bị cáo S phải bồi thường thiệt hại trên diện tích rừng 3.590m² với số tiền là 11.142.470 đồng để nộp vào ngân sách nhà nước. Ngày 21/10/2024 bị cáo đã tự nguyện nộp toàn bộ số tiền trên tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ. Ngày 15/11/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã nộp số tiền 11.142.470 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên theo Biên lai thu tiền số: 0000232.Vì vậy HĐXX cần tuyên Sung Ngân sách Nhà nước đối với số tiền này.
Đối với thiệt hại về môi trường, Hội đồng định giá tài sản không có đủ cơ sở để xác định về thiệt hại môi trường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[5] Về xử lý vật chứng: Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 con dao quắm lưỡi dao và chuôi dao làm bằng kim loại, cán dao làm bằng gỗ hình tròn, tổng chiều dài 84cm, trong đó lưỡi dao dài 28cm, chuôi dao dài 11cm, cán gỗ dài 45cm, đường kính cán gỗ 3cm, bản rộng nhất của lưỡi dao 6cm, mỏ quắm 3cm (Dao đã qua sử dụng); 01 con dao quắm lưỡi dao và chuôi dao làm bằng kim loại, cán dao làm bằng gỗ hình tròn, tổng chiều dài 64cm, trong đó lưỡi dao dài 27cm, chuôi dao dài 8cm, cán gỗ dài 29cm, đường kính cán gỗ 3cm, bản rộng nhất của lưỡi dao 4cm, mỏ quắm 3cm (Dao đã qua sử dụng) không có giá trị sử dụng là vật chứng của vụ án.
Căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106 BLTTHS, trả lại cho ông Thào A S 01 máy cưa xăng màu đỏ, nhãn hiệu Husqvarna 365, dài 108cm, chỗ rộng nhất 25cm, chỗ cao nhất 27cm;
[6] Về các vấn đề khác: Đối với chiếc xe mô tô do đã bị hỏng nên S đã bán cho người mua sát vụn không quen biết.
Hờ Thị V không chặt phá rừng cùng S, trong quá trình kiểm tra, xác minh tin báo V1 đã khai cùng S chặt phá rừng, mục đích để S được nhẹ tội, nhưng không cấu thành tội Che giấu tội phạm hoặc Không tố giác tội phạm, nên Cơ quan điều tra không đặt vấn đề xử lý đối với Hờ Thị V.
Ủy ban nhân dân xã M, huyện Đ và cán bộ kiểm lâm có trách nhiệm quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn. Quá trình điều tra cho thấy Uỷ ban nhân dân xã và cán bộ được phân công nhiệm vụ đã thực hiện đúng chức trách nhiệm vụ được giao; Thào A S không biết việc bị can S mượn máy cưa xăng để phá rừng, nên không đề cập vấn đề xử lý.
[7] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, Theo quy định tại khoản 3 Điều 36 Bộ luật Hình sự quy định: “Trong thời gian chấp hành án, người bị kết án phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ và bị khấu trừ một phần thu nhập từ 05% đến 20% để sung quỹ nhà nước. Việc khấu trừ thu nhập được thực hiện hằng tháng. Trong trường hợp đặc biệt, Tòa án có thể cho miễn việc khấu trừ thu nhập, nhưng phải ghi rõ lý do trong bản án ..." và khoản 4 Điều 243 Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm". Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, thu nhập chủ yếu phụ thuộc vào nương rẫy, hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[8] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện Đ; Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, luật sư bào chữa cho bị cáo, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và nguyên đơn dân sự không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[9] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm vì bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và tại phiên tòa bị cáo xin miễn án phí hình sự sơ thẩm. Vì vậy, theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14, Hội đồng xét xử quyết định miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố bị cáo Thào A S phạm tội: "Hủy hoại rừng".
- Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 243 Bộ luật Hình sự; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Thào A S 09 (Chín) tháng Cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt Cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Đ, tỉnh Điện Biên nhận được quyết định thi hành án. Giao bị cáo Thào A S cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã M trong việc giám sát, giáo dục. Trong thời gian chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ bị cáo Thào A S phải thực hiện các nghĩa vụ quy định tại Điều 99 Luật Thi hành án hình sự.
- Áp dụng khoản 3 Điều 36 và khoản 4 Điều 243 Bộ luật Hình sự: Không áp dụng hình phạt bổ sung và Miễn việc khấu trừ thu nhập cho bị cáo Thào A S.
- Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật tố tụng Hình sự: Hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 04/2024/HSST-LCĐKNCT ngày 21/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên đối với Thào A S.
- Về vật chứng vụ án:
- * Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 con dao quắm lưỡi dao và chuôi dao làm bằng kim loại, cán dao làm bằng gỗ hình tròn, tổng chiều dài 84cm, trong đó lưỡi dao dài 28cm, chuôi dao dài 11cm, cán gỗ dài 45cm, đường kính cán gỗ 3cm, bản rộng nhất của lưỡi dao 6cm, mỏ quắm 3cm (Dao đã qua sử dụng); 01 con dao quắm lưỡi dao và chuôi dao làm bằng kim loại, cán dao làm bằng gỗ hình tròn, tổng chiều dài 64cm, trong đó lưỡi dao dài 27cm, chuôi dao dài 8cm, cán gỗ dài 29cm, đường kính cán gỗ 3cm, bản rộng nhất của lưỡi dao 4cm, mỏ quắm 3cm (Dao đã qua sử dụng) không có giá trị sử dụng là vật chứng của vụ án.
- * Áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106 BLTTHS, trả lại cho ông Thào A S 01 (Một) máy cưa xăng màu đỏ, nhãn hiệu Husqvarna 365 bao gồm cả lưỡi lam và lưỡi cưa, có kích thước chiều dài của lưỡi cưa và máy cưa 108cm, chỗ rộng nhất 25cm, chỗ cao nhất 27cm, máy cưa đã qua sử dụng, không kiểm tra máy móc bên trong, xích cưa bị đứt.
- Về bồi thường thiệt hại: Sung Ngân sách Nhà nước số tiền 11.142.470 đồng (Mười một triệu,một trăm bốn hai nghìn, bốn trăm bẩy mươi đồng) bị cáo đã nộp tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ và cơ quan điều tra đã chuyển nộp cho Cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên theo Biên lai thu tiền số: 0000232 ngày 15 tháng 11 năm 2024.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự bị cáo có quyền kháng cáo toàn bộ bản án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (29/11/2024). Nguyên đơn dân sự; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Tòa án niêm yết bản án.
Trường hợp Bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 100 của Luật thi hành án hình sự.
Vật chứng đã được Công an huyện Đ bàn giao sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/11/2024 giữa Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Vũ Thị Tuyến |
Bản án số 58/2024/HS-ST ngày 29/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN TỈNH ĐIỆN BIÊN về hủy hoại rừng (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 58/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hủy hoại rừng (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Thào A S
