TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 58/2024/HS-ST Ngày 14-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Huệ.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lý Văn Tòng.
2. Bà Triệu Thị Yên.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Tùng - Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang
tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Minh Tú - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 51/2024/TLST-HS ngày 14/10/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2024/QĐXXST-HS ngày 31/10/2024 đối với bị cáo:
PHAN THỊ HƯƠNG T, tên gọi khác: Không; sinh ngày 10/9/1994 tại
huyện C, tỉnh Tuyên Quang. Nơi đăng ký thường trú: Thôn H, xã N, huyện C, tỉnh Tuyên Quang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 09/12; con ông Phan Văn M và bà Nguyễn Thị H; anh chị em ruột: Có 03, bị cáo là thứ nhất; chồng: Nguyễn Viết N, sinh năm 1989; con: có 02 con, con lớn sinh năm 2014 (đã chết), con nhỏ sinh năm 2017. Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
* Bị hại: Nguyễn Minh T1, sinh năm 2014 (đã chết).
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Anh Nguyễn Viết N, sinh năm 1989. Địa chỉ: Thôn H, xã N, huyện C, tỉnh Tuyên Quang (có mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trương Minh Đ, sinh năm 1989. Địa chỉ: Thôn L, xã H, huyện C, tỉnh Tuyên Quang (có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ, ngày 02/5/2024, Phan Thị Hương T, sinh năm 1994, trú tại thôn H, xã N, huyện C, tỉnh Tuyên Quang (đã có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVES, biển số 22B1-624.09 chở theo hai cháu Nguyễn Minh T1, sinh năm: 2014 và Nguyễn Viết Minh K, sinh năm 2017 (là con của T ngồi phía sau) đi theo hướng đường bê tông liên thôn từ thôn B đi thôn H, xã N, huyện C để về nhà. Khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, T điều khiển xe mô tô đi đến đoạn đường xuống dốc thuộc thôn H, cách nhà T khoảng 300m thì gặp 01 máy nông nghiệp có gắn theo thùng chở hàng phía sau do anh Trương Minh Đ, sinh năm 1989, trú tại thôn L, xã H, huyện C, tỉnh Tuyên Quang điều khiển đi phía trước cùng chiều. Lúc này, T ra tín hiệu xin vượt bằng cách bấm đèn xi nhan và còi. Nghe thấy tiếng còi xe xin vượt, Đ điều khiển máy nông nghiệp đi sát vào mép đường bên phải để nhường đường. Sau khi thấy Đ đã nhường đường, T điều khiển xe mô tô tăng tốc độ vượt sang bên trái của máy nông nghiệp, đi cách sườn trái máy nông nghiệp của Đoàn khoảng 01 mét và đi sát mép đường bê tông bên trái theo chiều đi. Khi T điều khiển xe mô tô vượt lên đến ngang đầu máy nông nghiệp của Đoàn thì phần bánh xe mô tô phía trước bị trượt vào mép lề đường bê tông bên trái (lề cỏ thấp hơn mặt đường), T điều khiển xe mô tô mất lái và bị ngã, làm cháu T1 ngồi phía sau xe văng vào lòng đường dẫn đến bánh kép phía sau bên trái của máy nông nghiệp do anh Đ điều khiển đi phía trước cùng chiều chèn lên đầu cháu T1. Hậu quả cháu T1 bị thương tích và chết trên đường đi cấp cứu.
Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định: Hiện trường nơi xảy ra sự việc là tại đường bê tông liên thôn thuộc thôn H, xã N. Tiến hành khám nghiệm theo hướng thôn H đi thôn K, xã N, lấp mép đường bê tông bên trái theo hướng khám nghiệm làm chuẩn. Mặt đường phẳng, nhẵn, khô, theo hướng khám nghiệm đoạn đường thẳng, xuống dốc. Lòng đường rộng 03 mét, lề đường bên phải là lề đất, cỏ mọc rộng 82cm, tiếp đến là rãnh thoát nước và vườn cỏ voi. Lề đường bên trái là lề đất, cỏ mọc, rộng 82cm, tiếp đến là rãnh thoát nước và ta luy dương.
Tại hiện trường phát hiện vùng vết cày bung đất, cây cỏ đổ rạp (vị trí số 1). Vùng có chiều dài 2,8m; rộng nhất 12cm, sâu nhất 3cm hướng từ thôn H đi thôn K. Vùng nằm trên lề đường bên trái. T1 đầu vết trùng với mép chuẩn; tâm cuối vết cách mép chuẩn là 40cm.
Cách tâm đầu vùng vết số (1) đi về hướng thôn K chếch sang phải 1,9m là tâm đầu vết cày trượt mặt đường (vị trí số 2), vết dài 90cm, rộng nhất 2cm, sâu nhất 0,2cm hướng thôn H đi thôn K. T1 đầu vết cách mép chuẩn là 18cm, tâm cuối vết cách mép chuẩn là 40cm.
Cách tâm đầu vết số 2 đi về hướng thôn K chếch sang phải 1,8m là tâm vùng vết màu nâu đỏ (vị trí số 3) vùng có kích thước (43x20)cm. T1 vùng cách mép chuẩn là 1,25m.
Cách tâm vùng vết số (3) đi thôn K chếch sang trái 1,0m là tâm vùng vết màu nâu đỏ (vị trí số 4). Vùng có kích thước (20x10)cm. T1 vùng cách mép chuẩn là 37 cm.
Tại Kết luận giám định tử thi số: 614/KL-KTHS, ngày 21/5/2024, của Phòng K1, Công an tỉnh T, đối với tử thi Nguyễn Minh T1, kết luận: Nguyên nhân chết của Nguyễn Minh T1 là suy hô hấp cấp do chấn thương hàm mặt, chảy máu lấp tắc đường hô hấp trên.
Tại Kết luận giám định số: 691/KL-KTHS ngày 22/5/2024, của Phòng K1, Công an tỉnh T, đối với dấu vết cơ học, kết luận: Xe mô tô biển số 22B1-624.09 với máy nông nghiệp không va chạm với nhau.
Tại Kết luận giám định số: 680/KL-KTHS ngày 22/5/2024, của Phòng K1, Công an tỉnh T, đối với dấu vết màu nâu đỏ thu tại vị trí số 3, số 4 trên hiện trường và mẫu máu của tử thi Nguyễn Minh T1, kết luận:
- + Dấu vết màu nâu đỏ thu tại vị trí số 3, số 4 trên hiện trường (ký hiệu A1, A2) là máu người, thuộc nhóm máu O.
- + Mẫu máu của tử thi Nguyễn Minh T1 (ký hiệu M) thuộc nhóm máu O.
Cáo trạng số: 54/CT-VKSCH ngày 14/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang truy tố Phan Thị Hương T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Phan Thị Hương T thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung đã khai tại giai đoạn điều tra và Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa truy tố.
Kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh, điều luật đã nêu trong Ccáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Thị Hương T phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
- - Về hình phạt chính: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phan Thị Hương T từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng cải tạo không giam giữ. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện C quản lý, giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo.
Bị cáo có nghề nghiệp làm ruộng, thuộc diện hộ nghèo, không có thu nhập ổn định nên đề nghị miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo trong thời gian cải tạo.
- - Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội với lỗi vô ý, do vậy không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- - Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bị cáo T; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trương Minh Đ đã tự nguyện bồi thường cho người đại diện hợp pháp của bị hại. Tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của bị hại yêu
cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm và có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do vậy không đề nghị xem xét.
- - Về vật chứng: Ngày 29/6/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda waves biển số 22B1-624.09; 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 056095; 01 chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự đối với xe mô tô cho chị Nguyễn Thị H là chủ sở hữu hợp pháp, do vậy không đề nghị xem xét, giải quyết;
Đối với 01 máy nông nghiệp có gắn thùng chở hàng nhãn hiệu YANMAR, số loại YM 2010 đã chuyển đến Công an huyện C đề xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền, do vậy không đề nghị xem xét giải quyết.
Trả lại 01 giấy phép lái xe hạng A1, số [...] cho bị cáo Phan Thị Hương T.
Ngoài ra đề nghị Hội đồng xét xử miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của bị hại trình bày: Về trách nhiệm dân sự không yêu cầu bị cáo T và anh Trương Minh Đ phải bồi thường thêm, về trách nhiệm hình sự đề nghị Hội đồng xét xử miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trương Minh Đ có đơn xin xét xử vắng mặt giữ nguyên ý kiến đã trình bày: Ngày 02/5/2024 khi anh đang điều khiển máy nông nghiệp chở ván cốt pha tại thôn H, xã N thì chị Phan Thị Hương T điều khiển xe mô tô chở cháu T1 và cháu K xe bị trượt bánh và đổ xuống đường làm cháu T1 văng vào bánh xe phía sau của máy nông nghiệp, hậu quả cháu T1 chết do suy hô hấp. Sau khi sự việc xảy ra anh đã tự nguyện bồi thường cho gia đình cháu T1 số tiền 100.000.000 đồng.
Kết thúc phần tranh luận bị cáo nói lời sau cùng: Nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố; của Kiểm sát viên tại phiên tòa đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, phù hợp theo quy định của pháp luật.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng truy tố, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm tử thi; kết luận giám định tử thi; lời khai của người đại diện bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 02/5/2024, Phan Thị Hương T, sinh năm 1994, trú tại thôn H, xã N, huyện C, tỉnh Tuyên Quang (có giấy phép lái xe theo quy định) đã có hành vi điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVES, biển số 22B1-624.09 chở cháu Nguyễn Minh T1, sinh năm 2014 và cháu Nguyễn Viết Minh K, sinh năm 2017 (là con của T) tham gia giao thông (đi theo hướng đường bê tông liên thôn từ thôn B đi thôn H, xã N, huyện C), vượt xe tại đoạn đường đầu dốc, không đảm bảo an toàn. Hậu quả xe mô tô do T điều khiển bị mất lái và ngã, làm cháu T1 ngồi phía sau xe văng vào lòng đường dẫn đến bánh xe phía sau cùng bên trái của máy nông nghiệp (gắn thùng chở hàng phía sau) do anh Trương Minh Đ, sinh năm 1989, trú tại thôn L, xã H, huyện C, tỉnh Tuyên Quang điều khiển đi phía trước cùng chiều chèn qua đầu làm cháu T1 chết do suy hô hấp cấp do chấn thương hàm mặt, chảy máu lấp tắc đường hô hấp trên.
Hành vi của bị cáo Phan Thị Hương T đã vi phạm quy định tại điểm c khoản 5 Điều 14 Luật giao thông đường bộ. Điểm c khoản 5 Điều 14 Luật giao thông đường bộ “Đường vòng, đầu dốc và các vị trí có tầm nhìn hạn chế”. Khi tham gia giao thông, người điều khiển phương tiện phải triệt để chấp hành các quy định của Luật giao thông đường bộ để đảm bảo an toàn khi tham gia giao thông nhưng bị cáo không tuân thủ các quy định gây tai nạn dẫn để hậu quả chết người.
Như vậy, hành vi của bị cáo Phan Thị Hương T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội với lỗi vô ý; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; sau khi tai nạn xảy ra bị cáo đã hỗ trợ bồi thường cho gia đình bị hại; người đại diện hợp pháp của bị hại xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Do đó, khi quyết định hình phạt cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt tương ứng cho bị cáo.
[4]. Về hình phạt:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn trong hoạt động giao thông đường bộ, đồng thời xâm phạm đến tính mạng và tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến
tình hình trật tự trị an của địa phương, gây hoang mang lo lắng cho người tham gia giao thông, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Do vậy, cần xử lý bị cáo mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra.
Hội đồng xét xử thấy rằng hành vi phạm tội của bị cáo do vô ý, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo. Do vậy căn cứ Điều 36 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo hình phạt cải tạo không giam giữ là phù hợp, cho bị cáo cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương và gia đình cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt. Bị cáo thuộc diện hộ nghèo, không có thu nhập ổn định, nên Hội đồng xét xử miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo Phan Thị Hương T phạm tội với lỗi vô ý, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6]. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường thiệt hại. Người đại diện hợp pháp của bị hại, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[7]. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda waves biển số 22B1-624.09; 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 056095; 01 chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự đối với xe mô tô. Ngày 29/6/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho chị Nguyễn Thị H là chủ sở hữu hợp pháp, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết;
Đối với 01 máy nông nghiệp có gắn thùng chở hàng nhãn hiệu YANMAR, số loại YM 2010 đã chuyển đến Công an huyện C đề xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Trả lại 01 giấy phép lái xe hạng A1, số [...] cho bị cáo Phan Thị Hương T.
[8]. Về án phí: Căn cứ các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: bị cáo Phan Thị Hương T thuộc diện hộ nghèo, tại phiên tòa bị cáo có đơn đề nghị miễn nộp tiền án phí, do vậy miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
[9]. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo; người đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Thị Hương T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- - Về hình phạt: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phan Thị Hương T 01 năm cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Phan Thị Hương T cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện C, tỉnh Tuyên Quang quản lý, giám sát, giáo dục, theo dõi thi hành án theo quy định tại Điều 19 Luật thi hành án Hình sự.
Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Phan Thị Hương T.
- - Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trả lại 01 giấy phép lái xe hạng A1, số [...] cho bị cáo Phan Thị Hương T.
Tình trạng vật chứng như biên bản về việc giao, nhận vật chứng, tài sản lập ngày 13 tháng 11 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C và Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Chiêm Hóa.
- - Về án phí: Căn cứ các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Phan Thị Hương T.
- - Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai./.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Thị Huệ |
Bản án số 58/2024/HS-ST ngày 14/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 58/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án số 58 Phan Thị Hương T phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
