TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 58/2024/HNGĐ-ST
Ngày 30 tháng 9 năm 2024
V/v tranh chấp hôn nhan và gia đình
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Cao Thị Đào
Các Hội thẩm nhân dân: 1.Ông Trần Đình Đậu.
2. Ông Nguyễn Ngọc Chín
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Trung Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 527/2023/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hôn nhân gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 50/2024/QÐST-HNGĐ ngày 12 tháng 9 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 56/2024/QÐST-HNGĐ ngày 24 tháng 9 năm 2024 giữa:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Năm, sinh năm 1961
- Bị đơn: Ông Đào Xuân Hảo, sinh năm 1963
Đều trú tại: Khu 11, xã Kim Đức, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan
- Anh Đào Xuân Hiến, sinh năm 1985 và chị Triệu Thị Thu Thủy, sinh năm 1987.
- Anh Đào Văn Lâm, sinh năm 1987
- Anh Đào Văn Hậu, sinh năm 1986
- Anh Đào Văn Dũng, sinh năm 1987
Đều trú tại: Khu 11, xã Kim Đức, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ
- Bà Nguyễn Thị Long, sinh năm 1932
ĐKHKTT: Khu 5, xã Kim Đức, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ
(Bà Năm, ông Hảo, anh Hiến, chị Thủy, anh Dũng có mặt, anh Hậu, anh Lâm, bà Long vắng mặt)
- Ủy ban nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
Địa chỉ: Số 1106, đại lộ Hùng Vương, phường Tiên Cát, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thành Trung - Phó trưởng phòng tài nguyên và môi trường thành phố Việt Trì ( có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Ủy ban nhân dân xã Kim Đức, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
Địa chỉ: Xã Kim Đức, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Thúy – Công chức địa chính – Xây dựng xã Kim Đức (có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện và bản tự khai, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Năm trình bày:
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Hảo kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Kim Đức, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ năm 1981. Sau khi kết hôn vợ chồng sống cùng gia đình nhà ông Hảo được vài tháng thì vợ chồng ra ở riêng. Đến khoảng năm 1983 thị vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không còn tình cảm, không hợp nhau, không quan tâm chăm sóc nhau, bất đồng quan điểm sống. Nay bà Năm xin ly hôn ông Hảo.
2. Về con chung: Bà Năm và ông Hảo có bốn con chung là anh Đào Xuân Hiến, sinh năm 1985, anh Đào Văn Hậu, sinh năm 1986, anh Đào Văn Lâm, sinh năm 1987 và anh Đào Văn Dũng, sinh năm 1987. Hiện nay các anh đều đã thành niên, lao động tự túc được nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
3. Về tài sản chung: Bà và ông Hảo có diện tích 5.260m² gồm: tờ bản đồ số 27, thửa số 15, diện tích là 2.512m² (Trong đó có 300m² đất thổ cư, 2212m² đất vườn); tờ bản đồ số 19, thửa số 161-1, diện tích 266m² đất lúa, thửa số 151-2, diện tích 245m² đất lúa; tờ bản đồ số 22, thửa số 242-1, diện tích 125m² đất lúa; tờ bản đồ số 16, thửa số 17-2, diện tích 420m² đất lúa; tờ bản đồ số 23, thửa số 96-1, diện tích 174m² đất lúa, thửa số 316-19, diện tích 249m² đất lúa; tờ bản đồ số 19, thửa số 287-2, diện tích 121m² đất lúa; tờ bản đồ số 26, thửa số 92-2, diện tích 294m² đất lúa; tờ bản đồ số 18, thửa số 138, diện tích 174m² đất ruộng màu; tờ bản đồ số 27, thửa số 21-2, diện tích 240m² đất ruộng màu, thửa số 13, diện tích 224m² đất ruộng màu, thửa số 14, diện tích 216m² đất ruộng mà, đã được cấp GCNQSDĐ số S402107 ngày 25/09/2001 đứng tên hộ ông Đào Xuân Hảo. Bà Năm đề nghị chia đất thửa 15, 13, 14, 21-2 tờ bản đồ số 27, còn các thửa đất khác bà Năm không đề nghị Tòa án giải quyết. Trên thửa đất 15, 13, 14, 21-2 tờ bản đồ số 27 có 03 ngôi nhà là 01 ngôi nhà cấp 4 đã cũ để làm nhà kho, 01 ngôi nhà hai tầng vợ chồng bà xây và đang ở đó, 01 nhà hai tầng do vợ chồng con trai bà là anh Đào Xuân Hiến và chị Triệu Thị Thu Thủy xây, 03 chuồng lợn, 01chuồng bò, 02 chuồng huơu và các cây cối lâm lộc trên đất. Vợ chồng ông bà còn có 01 mảnh đất đứng tên anh Đào Văn Hiến là thửa đất số 136-2, tờ bản đồ số 21 có diện tích là 150m² đất ở đã được cấp GCNQSDĐ số V679110 ngày 26/05/2003 đứng tên anh Đào Văn Hiến trên đất có 01 ngôi nhà xây mái bằng hiện nay anh Đào Văn Hậu đang ở và vợ chồng bà còn có 01 sổ tiết kiệm là 177.000.000₫ đứng tên ông Hảo gửi tại Ngân hàng Vietinbank chi nhánh đền Hùng (Nay là Ngân hàng Vietinbank Bắc Phú Thọ).
Khi ly hôn về tài sản bà Năm đề nghị chia thửa đất số 15, tờ bản đồ số 27 có diện tích là 2.512m² (Trong đó 300m² đất ở, 2.212m² đất vườn) và đất ruộng màu thửa 13,14,21-2 tờ bản đồ số 27 có tổng diện tích là 680m², làm sáu phần cho bà, ông Hảo, anh Hiến, anh Hậu, anh Dũng, anh Lâm. Về phần nhà của vợ chồng anh Hiến xây dựng ông bà cũng có công sức đóng góp nhưng không đề nghị chia, để cho vợ chồng anh Hiến sử dụng. Về phần nhà ông bà xây dựng bà đề nghị chia làm bốn phần cho bà, ông Hảo, anh Lâm, anh Dũng. Bà xin được ở nhà và thanh toán lại cho các thành viên trong gia đình. Bà thừa nhận anh Hiến, anh Hậu có công sức đóng góp để xây ngôi nhà đó. Về thửa đất số 136-2, tờ bản đồ số 21 là tiền của ông bà bỏ ra mua cho anh Hiến đứng tên, bà đề nghị chia làm hai phần cho bà và ông Hảo. Về cây cối trên thửa đất số 15, 13,14, 21-2 tờ bản đồ số 27 thuộc về phần đất của ai thì người đó sử dụng. Về gia súc, gia cầm ai nuôi thì người đó sử dụng không đề nghị Tòa án giải quyết. Về sổ tiết kiệm là 177.000.000₫ đứng tên ông Hảo gửi tại Ngân hàng Vietinbank chi nhánh đền Hùng chia làm hai phần cho bà và ông Hảo. Về phần đất ruộng còn lại và các tài sản còn lại không đề nghị Tòa án giải quyết.
- Về nợ: Vợ chồng bà không nợ ai, không cho ai vay gì.
Bị đơn ông Đào Xuân Hảo trình bày:
1. Về quan hệ hôn nhân: Về thời gian kết hôn và điều kiện kết hôn như bà Năm trình bày là đúng. Sau khi kết hôn vợ chồng ông bà sống cùng gia đình ông khoảng 06 tháng thì vợ chồng ra ở riêng. Thời gian đầu kết hôn vợ chồng sống hòa thuận đến khoảng đầu năm 2023 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do bà Năm làm trái phong tục tập quán của người Việt Nam, mê tín dị đoan, tin vào bói toán, tin vào thầy bói, lấy tiền của bố con ông cho thầy bói nên vợ chồng thường xuyên sảy ra cãi nhau. Nay bà Năm làm đơn xin ly hôn ông đồng ý.
2. Về con chung: Như bà Năm trình bày là đúng hiện nay các con đã trưởng thành không đề nghị Tòa án giải quyết.
3. Về tài sản chung: Vợ chồng ông có diện tích 5260m² đã được cấp GCNQSDĐ số S402107 ngày 25/09/2001 đứng tên hộ ông Đào Xuân Hảo như bà Năm trình bày là đúng. Bà Năm đề nghị chia đất 15, 13, 14, 21-2 tờ bản đồ số 27, còn các thửa đất khác bà Năm không đề nghị Tòa án giải quyết ông nhất trí. Trên thửa đất 15, 13, 14, 21-2 tờ bản đồ số 27 có 03 ngôi nhà như bà Năm trình bày là đúng. Riêng thửa đất số 136-2, tờ bản đồ số 21 là của vợ chồng ông bà mua nhưng đã cho anh Hiến từ lâu hiện nay GCNQSDĐ đứng tên anh Hiến là của anh Hiến không phải của ông bà, ông không nhất trí chia thửa đất này. Ông có đứng tên gửi cho mẹ đẻ ông là bà Nguyễn Thị Long số tiền là 100.000.000đ, vợ chồng ông không có tiền gửi tiết kiệm.
Khi ly hôn về tài sản ông Hảo đề nghị, về thửa đất số 15, 13,14, 21-2 tờ bản đồ số 27 ông đề nghị chia làm sáu phần cho ông bà và bốn người con. Về thửa đất số 136-2, tờ bản đồ số 21 ông không đề nghị chia vì đó là đất ông bà đã cho anh Hiến. Về phần nhà của vợ chồng anh Hiến xây dựng, ông bà cũng có công sức đóng góp nhưng ông không đề nghị chia, để cho vợ chồng anh Hiến sử dụng. Về phần nhà ông bà xây dựng tiền chủ yếu là của ông bà, các con ông bà có công sức đóng góp, ông đề nghị chia làm sáu phần cho ông, bà và bốn người con. Về cây cối trên thửa đất số 15, 13, 14, 21-2 tờ bản đồ số 27 thuộc về phần đất của ai thì người đó sử dụng. Về gia súc, gia cầm ai nuôi thì người đó sử dụng không đề nghị Tòa án giải quyết. Về sổ tiết kiệm ông Hảo thừa nhận là ông có gửi cho mẹ đẻ ông 100.000.000₫ đứng tên ông gửi tại Ngân hàng Vietinbank chi nhánh đền Hùng, ông không nhất trí chia. Về phần đất ruộng còn lại và các tài sản khác không đề nghị Tòa án giải quyết.
- Về nợ: Vợ chồng bà không nợ ai, không cho ai vay gì.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Đào Xuân Hiến và chị Triệu Thị Thu Thủy trình bày:
Năm 1998 ông Đào Xuân Hải (Là chú ruột) được nhà nước cấp đất do ông Hải không đủ tiền lấy 10m đất mặt đường, sâu 33m. Nên ông Hải đã để lại cho bố mẹ anh một nửa đất và bố mẹ anh đóng tiền là 3.500.000đ. Đến năm 2003 ông Hải làm thủ tục sang tên cho anh sử dụng với diện tích đất là 150m² và đã được UBND huyện Phù Ninh cấp giấy CNQSDĐ ngày 26/5/2003 đứng tên anh. Anh và bố mẹ anh xây nhà trên thửa đất trên từ năm 1998, hiện nay đang cho anh Hậu quản lý sử dụng. Nay mẹ anh yêu cầu chia thửa đất trên cho bố mẹ anh, anh không nhất trí vì bố mẹ anh đã cho anh.
Năm 2006 anh và chị Thủy kết hôn, sau đó anh chị xây căn nhà trên một phần đất của ông Hảo bà Năm (đất đứng tên hộ ông Đào Xuân Hảo), nguồn tiền xây nhà là của hai vợ chồng và vay mượn thêm để làm. Khi đó vì không đủ tiền anh chị chỉ xây tầng 1, đổ mái bằng và chưa sơn. Đến năm 2018 vợ chồng anh chị mới hoàn thiện được tầng hai và sơn nhà. Ngôi nhà vợ chồng anh chị đang sử dụng là do vợ chồng tự làm và không có đóng góp của bà Năm, ông Hảo.
Nay bà Năm, ông Hảo đề nghị chia thửa đất số 15, tờ bản đồ số 27 có diện tích là 2.512m² (Trong đó 300m² đất ở, 2.212m² đất vườn) và đất ruộng màu thửa 13,14,21-2 tờ bản đồ số 27 có tổng diện tích là 680m2, làm sáu phần cho ông bà và bốn người con, anh chị nhất trí với quan điểm của bà Năm bà ông Hảo, anh chị xin được chia phần đất cho anh chị đã xây nhà, còn về phần nhà của ông bà Năm Hảo xây anh đề nghị chia làm sáu phần như ông Hảo đề nghị.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Đào Văn Dũng trình bày:
Anh là con đẻ của ông Hảo bà Năm, anh học hết lớp 10 thì đi bộ đội. Sau khi xuất ngũ anh về nhà lao động tự do. Trong khối tài sản của bố mẹ anh có đóng góp công sức, vào thời gian xây nhà anh tự xây, mua cửa nhôm kính và đưa cho mẹ anh 50.000.000đ. Nay bà Năm xin ly hôn ông Hảo và chia tài sản chung của quan điểm của anh đề nghị được chia một phần nhà và đất, đề nghị chia thửa đất số 15, 13, 14, 21-2, tờ bản đồ số 27 làm sáu phần cho bố mẹ tôi và bốn anh em anh. Về phần nhà của vợ chồng anh Hiến xây dựng anh không đề nghị chia, để cho vợ chồng anh Hiến sử dụng. Về phần nhà bố mẹ anh xây dựng anh đề nghị chia làm bốn phần cho bố mẹ anh, anh và anh Lâm. Về cây cối trên thửa đất khi chia thuộc về phần đất của ai thì người đó sử dụng. Về gia súc, gia cầm ai nuôi thì người đó sử dụng không đề nghị Tòa án giải quyết. Về phần đất ruộng còn lại và các tài sản khác không đề nghị Tòa án giải quyết.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Long tại biên bản lấy lời khai trình bày:
Bà là mẹ đẻ ông Đào Xuân Hảo, bà Nguyễn Thị Năm là con dâu. Bà không nhớ rõ năm nào bà có nhờ ông Đào Xuân Hảo gửi tiết kiệm cho bà số tiền là 150.000.000đ, gửi ngân hàng nào bà không biết. Nguồn gốc số tiền là bà bán đất nhờ ông Hảo gửi tiết kiệm để lấy lãi chi tiêu. Ông Hảo đã rút dần đưa cho bà chi tiêu, hiện nay còn lại là 100.000.000đ, ông Hảo vẫn gửi cho bà khi nào cần thì bà bảo ông Hảo trả lại sau.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Đại diện theo uỷ quyền của Uỷ ban nhân dân thành phố Việt Trì ông Nguyễn Thành Trung và Đại diện theo ủy quyền của UBND xã Kim Đức bà Nguyễn Thị Thúy tại bản tự khai trình bày:
- Tại sổ mục kê và sổ địa chính năm 2001 hộ ông Đào Xuân Hảo sử dụng 5.260m² đất (trong đó có: 300m² đất thổ cư, 2212m² đất vườn, 2748m² đất lúa và đất trồng cây hàng năm khác). Hộ ông Đào Xuân Hảo đã được cấp GCNQSDĐ số S402107 ngày 25/09/2001, tổng diện tích 5260m² gồm: tờ bản đồ số 27, thửa số 15, diện tích là 2512m² (Trong đó có 300m² đất thổ cư, 2212m² đất vườn); tờ bản đồ số 19, thửa số 161-1, diện tích 266m² đất lúa, thửa số 151-2, diện tích 245m² đất lúa; tờ bản đồ số 22, thửa số 242-1, diện tích 125m² đất lúa; tờ bản đồ số 16, thửa số 17-2, diện tích 420m² đất lúa; tờ bản đồ số 23, thửa số 96-1, diện tích 174m² đất lúa, thửa số 316-19, diện tích 249m² đất lúa; tờ bản đồ số 19, thửa số 287-2, diện tích 121m² đất lúa; tờ bản đồ số 26, thửa số 92-2, diện tích 294m² đất lúa; tờ bản đồ số 18, thửa số 138, diện tích 174m² đất ruộng màu; tờ bản đồ số 27, thửa số 21-2, diện tích 240m² đất ruộng màu, thửa số 13, diện tích 224m² đất ruộng màu, thửa số 14, diện tích 216m² đất ruộng màu. Theo GCNQSDĐ của UBND huyện Phù Ninh là giao đất cho hộ ông Đào Xuân Hảo, chứ không phải giao đất cho cá nhân ông Hảo.
Thời điểm nhà nước giao đất cho hộ ông Hảo, gia đình ông Hảo gồm có: ông Đào Xuân Hảo, bà Nguyễn Thị Năm (vợ ông Hảo), anh Đào Xuân Hiến, anh Đào Văn Hậu, anh Đào Văn Lâm, anh Đào Văn Dũng là con ông Hảo và bà Năm.
Theo kết quả đo đạc thực tế hộ ông Hảo đang sử dụng hiện nay là 3325,0m² gồm các thửa 15,13,14 và 21-2 tờ bản đồ số 27 (sổ mục kê và sổ địa chính năm 2001)
Tại sổ mục kê đo đạc năm 2010 và bản đồ số năm 2010 thì thửa đất số 15, tờ bản đồ số 27, diện tích 2212m² thành thửa số 294, tờ bản đồ số 13, diện tích 2663,2m² (đất ONT); thửa số 13, tờ bản đồ số 27, diện tích 224m² thành thửa 426, tờ bản đồ số 33, diện tích 226,4m² (đất BHK); thửa đất số 14, tờ bản đồ số 27, diện tích 216m² thành thửa 382, tờ bản đồ số 33, diện tích 240,5m² (đất BHK); thửa số 21-1, tờ bản đồ số 27, diện tích 240m² thành thửa 389, tờ bản đồ số 33, diện tích 214m² (đất BHK). Tổng diện tích các thửa số 294, 246, 426, 389 tờ bản đồ số 33 có tổng diện tích 3344,1m².
Về diện tích đất hiện nay hộ ông Hảo đang sử dụng tăng so với diện tích đất theo GCNQSDĐ là 133 m² (3325m² – 2512m² – 224 m²-216m² - 240m² = 133m2). Nguyên nhân diện tích đất tăng là sai số do đo đạc vì trước đây đo thủ công bằng thước dây nay đo bằng máy. Ốp theo bản đồ số năm 2010 và sổ địa chính năm 2010 thì hộ ông Hảo sử dụng thiếu là 19,1m2 (3344,1m²- 3325m²=19,1m²). Phần diện tích đất hộ ông Hảo sử dụng hiện nay đã xây tường rào xung quanh và không có tranh chấp với các hộ liền kề.
Trên diện tích đất của hộ ông Hảo hiện nay có 03 ngôi nhà (01 ngôi nhà cấp ba hai tầng ông Hảo bà Năm và các con đang ở và sử dụng; 01 ngôi nhà cấp ba hai tầng vợ chồng anh Hiến đang ở và sử dụng; 01 ngôi nhà cấp bốn ông Hảo bà năm xây dựng năm 1982 để làm nhà kho), 02 ngôi nhà cấp ba hai tầng một phần xây trên đất ruộng màu đã cấp cho hộ ông Hảo.
Nay bà Năm, ông Hảo đề nghị chia tài sản chung đề nghị giải quyết theo pháp luật. Về diện tích đất hộ ông Hảo sử dụng tăng so với GCNQSDĐ, hộ ông Hảo đã sử dụng lâu năm không có tranh chấp với ai đề nghị Tòa án giao cho hộ ông Hảo sử dụng và làm thủ tục chuyển đổi mục đích theo quy định của pháp luật.
- Về nguồn gốc đất hộ anh Đào Văn Hiến như sau:
Tại sổ mục kê năm 2001, thửa đất 136, tên chủ hộ sử dụng đất là ông Đào Văn Hải (em ông Đào Xuân Hảo), diện tích là 300m². Đến năm 2003, ông Đào Văn Hải đã chuyển nhượng cho anh Đào Văn Hiến và anh Hiến đã được cấp GCNQSDĐ số V679110 ngày 26/05/2003, tờ bản đồ số 21, thửa số 136-2, diện tích 150m². Hiện nay trên thửa đất này có 01 nhà cấp bốn hiện nay anh Hậu (con bà Năm, ông Hảo) đang ở và sử dụng.
Nay bà Năm đề nghị chia mảnh đất này đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật.
TẠI PHIÊN TÒA:
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì phát biểu quan điểm:
- Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên toà và các đương sự từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi HĐXX nghị án cơ bản đã thực hiện đúng theo quy định của BLTTDS.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn cho bà Nguyễn Thị Năm và ông Đào Xuân Hảo.
- Về con chung: do các con chung đã thành niên, ông bà không đề nghị giải quyết nên không xem xét giải quyết.
- Về chia tài sản chung: Chấp nhận yêu cầu chia tài sản chung đối với thửa đất số 15, 13, 14 và 21-2 tờ bản đồ số 27 và ngôi nhà 02 tầng mà ông bà Năm Hảo đang ở thành 06 phần cho bà Năm, ông Hảo, và 04 con chung, giao ngôi nhà 02 tầng mà ông bà Năm Hảo đang ở cho bà Năm sử dụng, bà Năm phải thanh toán tiền chênh lệch cho các đương sự còn lại, khi chia đất cần ưu tiên tài sản nhà kiên cố của đương sự nào thì chia phần đất cho đương sự đó.
- Không chấp nhận yêu cầu của bà Năm về việc đề nghị chia tài sản chung của vợ chồng là thửa đất số 136-2, tờ bản đồ số 21, diện tích 150m² đã được cấp GCNQSDĐ số V679110 ngày 26/05/2003 đứng tên anh Đào Văn Hiến.
- Không chấp nhận yêu cầu của bà Năm về việc đề nghị chia tài sản chung của vợ chồng số tiền tiết kiệm là 177.000.000đ.
- Về chi phí tố tụng, án phí: Các đương sự phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Bà Nguyễn Thị Năm yêu cầu ly hôn và chia tài sản chung của vợ chồng là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn là ông Đào Xuân Hảo có hộ khẩu thường trú tại khu 11, xã Kim Đức, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, do vậy Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa đại diện theo ủy của UBND thành phố Việt Trì, đại diện theo ủy của UBND xã Kim Đức, bà Nguyễn Thị Long đều xin xét xử vắng mặt. Anh Đào Văn Hậu và anh Đào Văn Lâm đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227; khoản 1,3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt.
Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh Hậu, anh Lâm không đến Tòa án làm việc nên không có lời khai của anh Hậu, anh Lâm.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Năm và ông Hảo kết hôn năm 1981 có đăng ký kết hôn tại UBND xã Kim Đức, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống theo bà Năm trình bày vợ chồng có nhiều mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng về quan điểm sống, vợ chồng không quan tâm đến nhau nên thường xuyên sảy ra cãi nhau, bà Năm xét thấy tình cảm vợ chồng không còn bà Năm xin ly hôn ông Hảo. Ông Hảo nhất trí ly hôn. Do vậy cần xử công nhận thuận tình ly hôn giữa bà Năm và Hảo.
[2.3] Về con chung: Bà Năm và ông Hảo xác nhận có 04 con chung là anh Đào Xuân Hiến, sinh năm 1985, anh Đào Văn Hậu, sinh năm 1986, anh Đào Văn Lâm, sinh năm 1987 và anh Đào Văn Dũng, sinh năm 1987. Hiện nay các con đều đã thành niên, lao động tự túc được, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.
[2.4] Về tài sản chung:
Xét thấy bà Năm và ông Hảo có có diện tích đất tổng là 5.260m² gồm: tờ bản đồ số 27, thửa số 15, diện tích là 2512m² (Trong đó có 300m² đất thổ cư, 2212m² đất vườn); tờ bản đồ số 19, thửa số 161-1, diện tích 266m² đất lúa, thửa số 151-2, diện tích 245m² đất lúa; tờ bản đồ số 22, thửa số 242-1, diện tích 125m² đất lúa; tờ bản đồ số 16, thửa số 17-2, diện tích 420m² đất lúa; tờ bản đồ số 23, thửa số 96-1, diện tích 174m² đất lúa, thửa số 316-19, diện tích 249m² đất lúa; tờ bản đồ số 19, thửa số 287-2, diện tích 121m² đất lúa; tờ bản đồ số 26, thửa số 92-2, diện tích 294m² đất lúa; tờ bản đồ số 18, thửa số 138, diện tích 174m² đất ruộng màu; tờ bản đồ số 27, thửa số 21-2, diện tích 240m² đất ruộng màu, thửa số 13, diện tích 224m² đất ruộng màu, thửa số 14, diện tích 216m² đất ruộng mà, đã được cấp GCNQSDĐ số S402107 ngày 25/09/2001 đứng tên hộ ông Đào Xuân Hảo. Nay bà Năm, ông Hảo, anh Hiến, anh Dũng đề nghị chia thửa đất 15, 13, 14, 21-2 tờ bản đồ số 27, các thửa đất còn lại không đề nghị Tòa án giải quyết.
Thấy rằng: thửa đất số 15, 13, 14, 21-2 tờ bản đồ số 27 có tổng diện tích là 3.192m². Theo kết quả đo đạc thực tế hộ ông Hảo đang sử dụng hiện nay các thửa này có tổng diện tích là 3.325,0m², tăng so với GCNQSDĐ được cấp và sổ mục kê và sổ địa chính năm 2001 là 133m². Theo sổ mục kê đo đạc năm 2010 và bản đồ số năm 2010 thì các thửa đất trên có tổng diện tích 3344,1m² thiếu so với thực tế sử dụng là 19,1m².
Qua xác minh tại chính quyền địa phương, lời khai UBND thành phố Việt Trì, lời khai của UBND xã Kim Đức thấy rằng thửa đất 15, 13, 14, 21-2 tờ bản đồ số 27 vợ chồng ông Hảo đã sử dụng nhiều năm nay và đã xây tường rào xung quanh không có tranh chấp với các hộ liền kề, quan điểm của UBND thành phố Việt Trì và quan điểm của UBND xã Kim Đức giao cho hộ ông Hảo sử dụng và làm thủ tục chuyển đổi mục đích theo quy định của pháp luật. Do vậy cần xác nhận diện tích đất thực tế để chia là 3.325,0m².
* Xét yêu cầu của bà Năm, ông Hảo, anh Hiến chị Thủy và anh Dũng đều đề nghị chia thửa đất số 15, 13,14,21-2 tờ bản đồ số 27 làm sáu phần cho bà Năm, ông Hảo, anh Hiến, anh Hậu, anh Dũng, anh Lâm. Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh Hậu, anh Lâm đã không đến Tòa án làm việc nên không có lời khai của anh Hậu, anh Lâm.
Thấy rằng các thửa đất trên đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất GCNQSDĐ số S402107 ngày 25/09/2001 đứng tên hộ ông Đào Xuân Hảo. Qua xác minh tại chính quyền đại phương, lời khai của UBND thành phố Việt Trì, lời khai của UBND xã Kim Đức xác nhận thửa đất trên cấp cho hộ gia đình ông Hảo không phải cấp riêng cho cá nhân ông Hảo. Tại thời điểm cấp đất hộ gia đình ông Hảo có ông Hảo, bà Năm và bốn người con (là anh Hiến, anh Hậu, anh Lâm, anh Dũng). Thửa đất trên đủ điều kiện để tách thửa theo quy định của luật đất đai. Do vậy yêu cầu của bà Năm, ông Hảo, anh Hiến chị Thủy và anh Dũng đề nghị chia thửa đất trên thành sáu phần cho bà Năm, ông Hảo, anh Hiến, anh Hậu, anh Dũng, anh Lâm là có căn cứ nên chấp nhận.
Xét thấy ông Hảo và bà Năm có công sức nhiều hơn trong việc duy trì và cải tạo thửa đất trên do vậy cần chia thửa đất trên cho ông bà Năm Hảo nhiều hơn các con của ông bà.
Theo Hội đồng định giá xác định thửa đất số 15, tờ bản đồ số 27 có trị giá là: Đất ở có giá 1.200.000đ/m²; Đất vườn có giá 150.100đ/m², giá đất màu (BHK) là 58.500đ/m²
Do vậy thửa đất cần được chia như sau:
Giao cho bà Nguyễn Thị Năm được quyền sử dụng 1 phần thửa đất số 15, 13, tờ bản đồ số 27 diện tích diện tích S1 là 630,4m² theo chỉ giới là 1,2,3,4,5,31,32,33,34,35,1 (trong đó 50m² đất ở, 486,20m² đất vườn, 94,20m² đất màu) trị giá là: 138.489.320đ. (Có sơ đồ bản vẽ kèm theo).
Giao cho ông Đào Xuân Hảo được quyền sử dụng 1 phần thửa đất số 14, 15 tờ bản đồ số 27 diện tích diện tích S5 là 588,7m² theo chỉ giới là 9,10,19,18,20,21,22,23,24,25,9 (trong đó có 50m² đất ở, 478,80m² đất vườn và 59,9m² đất màu) trị giá là: 135.372.030đ. (Có sơ đồ bản vẽ kèm theo).
Giao cho anh Đào Xuân Hiến và chị Triệu Thị Thu Thủy được quyền sử dụng một phần thửa đất số 14,15, 21-2, tờ bản đồ số 27 diện tích diện tích S6 là 574,90m² theo chỉ giới là 10,11,12,13,14,15,16,17,18,19,10 (trong đó 50m² đất ở, 294,20m² đất vườn, 230,70m² đất màu) trị giá là 117.655.370đ (Có sơ đồ bản vẽ kèm theo).
Giao cho anh Đào Văn Lâm được quyền sử dụng một phần thửa đất số 14, 15 tờ bản đồ số 27 diện tích diện tích S2 là 509,90m² theo chỉ giới là 5,6,7,29,30,31,5 (trong đó 50m² đất ở, 378.00m² đất vườn, 81.90m² đất màu) trị giá là 121.528.950₫
Giao cho anh Đào Văn Dũng được quyền sử dụng một phần thửa đất số 13, 14, 15 tờ bản đồ số 27 diện tích diện tích S3 là 511.60m² theo chỉ giới là 7,8,26,27,28,29,7 (trong đó 50m² đất ở, 372.50m² đất vườn, 89.10m² đất màu) trị giá là 121.124.600₫
Giao cho anh Đào Văn Hậu được quyền sử dụng một phần thửa đất số 14, 15 tờ bản đồ số 27 diện tích diện tích S4 là 509.80m² theo chỉ giới là 8,9,25,26,8 (trong đó 50m² đất ở, 371.40m² đất vườn, 88.40m² đất màu) trị giá là 120.918.540₫.
Phần đất bà Năm được chia nhiều hơn ông Hảo và phần đất các đương sự khác được chia diện tích đất khác nhau, trị giá chênh lệch ít nên các đương sự không đề nghị gì.
* Xét về nhà (tài sản trên đất) các thửa đất số 13, 14, 15, 21-2 tờ bản đồ số 27 thấy rằng:
Về ngôi nhà ông bà Năm Hảo đang ở hiện nay tiền xây nhà chủ yếu là của bà Năm và ông Hảo. Bà Năm và ông Hảo thừa nhận anh Hiến, anh Hậu, anh Dũng, anh Lâm cũng có công sức đóng góp một phần vào việc xây nhà. Do vậy cần chia ngôi nhà này theo tỷ lệ bà Năm và ông Hảo được hưởng 70% giá trị ngôi nhà, anh Hiến, anh Hậu, anh Lâm và anh Dũng được hưởng 30% giá trị ngôi nhà. Ngôi nhà này không thể chia được bằng hiện vật vì nếu chia bằng hiện vật thì mất giá trị của ngôi nhà. Vì vậy cần giao cho một người sở hữu và thanh toán lại cho các thành viên trong gia đình. Bà Năm xin được ở ngôi nhà này và thanh toán cho các thành viên trong gia đình thấy là phù hợp nên chấp nhận.
Theo Hội đồng định giá 01 ngôi nhà hai tầng tổng diện tích 144,4m², Giá trị định giá là 663.732.000đ.
Tỷ lệ chia như sau:
Bà Năm và ông Hảo được hưởng 70% giá trị ngôi nhà là 663.732.000₫ x 70% = 464.612.400đ. Chia đôi cho bà Năm và ông Hảo mỗi người được hưởng là 464.612.400đ/2 = 232.306.200₫.
Anh Hiến, anh Hậu, anh Lâm, anh Dũng được hưởng 30% giá trị ngôi nhà là 663.732.000₫ x 30% = 199.119.600đ. Chia cho mỗi người được hưởng là 199.119.600đ/4= 49.779.900₫.
Giao cho bà Năm sở hữu 01 ngôi nhà hai tầng tổng diện tích 144,4m². Giá trị định giá là 663.732.000đ. bà Năm phải thánh toán cho các thành viên trong gia đình như sau: Ông Hảo 232.306.200đ, anh Hiến, anh Hậu, anh Lâm, anh Dũng mỗi người 49.779.900đ.
- Về ngôi nhà hai tầng vợ chồng anh Hiến chị Thủy đang ở hiện nay: Tiền xây dựng ngôi nhà này là của vợ chồng anh Hiến. Bà Năm, ông Hảo anh Dũng không yêu cầu chia ngôi nhà này. Do vậy cần xác nhận ngôi nhà này là của anh Hiến và chị Thủy và giao cho anh Hiến chị Thủy được quyền sở hữu ngôi nhà này theo hội đồng định giá 01 ngôi nhà hai tầng tổng diện tích 77,1m² giá trị định giá là 155.371.000₫.
- Về ngôi nhà cấp bốn và chuồng trại xây năm 1982 theo hội đồng định giá hết khấu hao không định giá. Các đương sự đề nghị trên đất của ai thì người đó sử dụng.
- Đối với các thửa đất lúa và đất ruộng màu còn lại các đương sự không đề nghị Tòa án giải quyết do vậy không đặt ra xem xét giải quyết.
- Đối với các cây cối lâm lộc trên đất các đương sự đề nghị cây trên đất của ai được giao thì người đó sử dụng không đề nghị giải quyết do vậy không xem xét giải quyết.
- Xét yêu cầu của bà Năm đề nghị chia thửa số 36-2, diện tích 150m² đứng tên anh Đào Văn Hiến là tài sản chung của ông bà thấy rằng: Theo bà Năm khai bà chỉ cho anh Hiến đứng tên chứ không cho anh Hiến mảnh đất này nhưng qua xác minh tại chính quyền địa phương thì tại sổ mục kê năm 2001, thửa đất 136, tên chủ hộ sử dụng đất là ông Đào Văn Hải (em ông Đào Xuân Hảo), diện tích là 300m². Đến năm 2003, ông Đào Văn Hải đã chuyển nhượng cho anh Đào Văn Hiến và anh Hiến đã được cấp GCNQSDĐ số V679110 ngày 26/05/2003, tờ bản đồ số 21, thửa số 136-2, diện tích 150m². Ông Hảo và anh Hiến thừa nhận thửa đất này là của ông bà Năm Hảo mua nhưng bà Năm và ông Hảo đã cho anh Hiến thửa đất này nên anh Hiến mới được GCNQSDĐ số V679110 ngày 26/05/2003. Ngoài lời khai bà Năm cũng không có tài liệu chứng cứ gì để chứng minh chỉ cho anh Hiến đứng tên, anh Hiến và ông Hảo đều trình bày đã cho anh Hiến. Do vậy yêu cầu của bà Năm đề nghị chia thửa số 36-2, diện tích 150m² đứng tên anh Đào Văn Hiến là không có căn cứ để chấp nhận.
- Xét yêu cầu của bà Năm đề nghị chia số tiền 177.000.000₫ là tài sản chung của ông bà thấy rằng: Tòa án đã yêu cầu Ngân hàng Vietinbank chi nhánh Đền Hùng (Nay là Ngân hàng Vietinbank Bắc Phú Thọ) cung cấp số tiền gửi của ông Đào Xuân Hảo, ngân hàng có cung cấp như sau: đến thời điểm ngày 06/6/2024 ông Hảo vẫn gửi tại ngân hàng Vietinbank Bắc Phú Thọ số tiền 100.000.000đ, nhưng ông Hảo khai có gửi tiền cho mẹ đẻ ông là bà Nguyễn Thị Long, Tòa án đã lấy lời khai của bà Long, bà Long có xác nhận có nhờ ông Hảo gửi số tiền 100.000.000đ để ông Hảo lấy lãi cho bà chi tiêu đến nay vẫn còn 100.000.000đ, bà Năm cũng không đưa ra được các tài liệu chứng cứ gì để chứng minh vợ chồng bà có số tiền gửi tiết kiệm là 177.000.000đ. Do vậy yêu cầu của bà Năm đề nghị chia số tiền 177.000.000đ là không có căn cứ để chấp nhận
[2.5] Về chi phí tố tụng: Bà Năm xin tự chịu tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản không đề nghị Tòa án giải quyết trong vụ án. Do vậy không đặt ra xem xét giải quyết trong vụ án.
[2.6] Về án phí:
Bà Nguyễn Thị Năm và ông Đào Xuân Hảo là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
- Anh Đào Xuân Hiến và chị Triệu Thị Thu Thủy được hưởng tài sản được chia là: 117.655.370đ (tiền đất) + 49.779.900đ (tiền nhà) = 167.405.270₫ x 5% = 8.370.263đ án phí đối với tài sản được chia.
- Anh Đào Văn Lâm được được hưởng tài sản được chia là: 121.528.950₫ (tiền đất) + 49.779.900đ (tiền nhà) = 171.308.850d x 5% = 8.565.442đ án phí đối với tài sản được chia
- Anh Đào Văn Dũng được hưởng tài sản được chia là 121.124.600đ nên phải chịu 121.124.600đ (tiền đất) + 49.779.900đ (tiền nhà ) = 170.904.500₫ x 5% = 8.545.225đ án phí đối với tài sản được chia
- Anh Đào Văn Hậu được hưởng tài sản được chia là: 120.918.540 (tiền đất) + 49.779.900đ (tiền nhà ) = 170.698.440 x 5% = 8.534.922đ án phí đối với tài sản được chia.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227; Khoản 1,3 Điều 228 BLTTDS; Điều 29, 33, 51, 55, 59, 62 Luật hôn nhân và gia đình; Điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm b khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án và Điều 26 Luật thi hành án dân sự:
Xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Năm
- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Năm và ông Đào Xuân Hảo.
- Về con chung: Bà Năm và ông Hảo xác nhận có 04 con chung là anh Đào Xuân Hiến, sinh năm 1985, anh Đào Văn Hậu, sinh năm 1986, anh Đào Văn Lâm, sinh năm 1987 và anh Đào Văn Dũng, sinh năm 1987. Hiện nay các con chung đều đã thành niên, lao động tự túc được, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung:
Giao cho bà Nguyễn Thị Năm được quyền sử dụng 1 phần thửa đất số 15, 13, tờ bản đồ số 27 diện tích diện tích S1 là 630.4m² theo chỉ giới là 1,2,3,4,5,31,32,33,34,35,1 (trong đó 50m² đất ở, 486,20m² đất vườn, 94,20m² đất màu) trị giá là: 138.489.320đ và sở hữu 01 ngôi nhà hai tầng trên đất có diện tích 144,4m² trị giá là 663.7732.000đ và các tài sản, cây cối lâm lộc trên diện tích đất được giao. (Có sơ đồ bản vẽ kèm theo)
Giao cho ông Đào Xuân Hảo được quyền sử dụng 1 phần thửa đất số 14, 15 tờ bản đồ số 27 diện tích diện tích S5 là 588.7m² theo chỉ giới là 9,10,19,18,20,21,22,23,24,25,9 (trong đó có 50m² đất ở, 478.80m² đất vườn và 59.9m² đất màu) trị giá là: 135.372.030đ và các tài sản, cây côi lâm lộc trên diện tích đất được giao (Có sơ đồ bản vẽ kèm theo).
Giao cho anh Đào Xuân Hiến và chị Triệu Thị Thu Thủy được quyền sử dụng một phần thửa đất số 14,15, 21-2, tờ bản đồ số 27 diện tích diện tích S6 là 574.90m² theo chỉ giới là 10,11,12,13,14,15,16,17,18,19,10 (trong đó 50m² đất ở, 294.20m² đất vườn, 230.70m² đất màu) trị giá là 117.655.370đ và sở hữu 01 ngôi nhà hai tầng diện tích 77,1m² và các tài sản, cây cối lâm lộc trên diện tích đất được giao. (Có sơ đồ bản vẽ kèm theo)
Giao cho anh Đào Văn Lâm được quyền sử dụng một phần thửa đất số 14, 15 tờ bản đồ số 27 diện tích diện tích S2 là 509.90m² theo chỉ giới là 5,6,7,29,30,31,5 (trong đó 50m² đất ở, 378.00m² đất vườn, 81.90m² đất màu) trị giá là 121.528.950đ và các tài sản khác trên diện tích đất được giao.
Giao cho anh Đào Văn Dũng được quyền sử dụng một phần thửa đất số 13, 14, 15 tờ bản đồ số 27 diện tích diện tích S3 là 511.60m² theo chỉ giới là 7,8,26,27,28,29,7 (trong đó 50m² đất ở, 372.50m² đất vườn, 89.10m² đất màu) trị giá là 121.124.600đ và các tài sản khác trên diện tích đất được giao.
Giao cho anh Đào Văn Hậu được quyền sử dụng một phần thửa đất số 14, 15 tờ bản đồ số 27 diện tích diện tích S4 là 509.80m² theo chỉ giới là 8,9,25,26,8 (trong đó 50m² đất ở, 371.40m² đất vườn, 88.40m² đất màu) trị giá là 120.918.540đ và các tài sản khác trên diện tích đất được giao.
Bà Năm có trách nhiệm thanh toán tiền nhà cho các thành viên trong gia đình như sau: ông Hảo là 232.306.200đ; anh Hiến, anh Hậu, anh Lâm, anh Dũng mỗi người là 49.779.900đ.
Kể từ khi án có hiệu lực pháp luật, ông Hảo, anh Hiến, anh Hậu, anh Dũng, anh Lâm có đơn đề nghị thi hành án, bà Năm không thanh toán cho ông Hảo, anh Hiến, anh Hậu, anh Dũng, anh Lâm số tiền trên thì phải chịu lãi xuất chậm trả theo quy định tại Điều 357, 468 bộ luật dân sự.
Đối với các thửa đất số 161-1, diện tích 266m² đất lúa, thửa số 151-2, diện tích 245m² đất lúa; tờ bản đồ số 22, thửa số 242-1, diện tích 125m² đất lúa; tờ bản đồ số 16, thửa số 17-2, diện tích 420m² đất lúa; tờ bản đồ số 23, thửa số 96-1, diện tích 174m² đất lúa, thửa số 316-19, diện tích 249m² đất lúa; tờ bản đồ số 19, thửa số 287-2, diện tích 121m² đất lúa; tờ bản đồ số 26, thửa số 92-2, diện tích 294m² đất lúa; tờ bản đồ số 18, thửa số 138, diện tích 174m² đất ruộng màu, Tòa án không xem xét giải quyết.
Không chấp nhận yêu cầu của bà Năm về việc đề nghị chia tài sản chung của vợ chồng là thửa đất số 136-2, tờ bản đồ số 21, diện tích 150m² đã được cấp GCNQSDĐ số V679110 ngày 26/05/2003 đứng tên anh Đào Văn Hiến.
Không chấp nhận yêu cầu của bà Năm về việc đề nghị chia tài sản chung của vợ chồng số tiền tiết kiệm là 177.000.000đ.
- Về chi phí tố tụng: Bà Năm xin tự chịu không đề nghị Tòa án giải quyết trong vụ án. Do vậy không đặt ra xem xét giải quyết trong vụ án.
- Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà Nguyễn Thị Năm và ông Đào Xuân Hảo. Anh Đào Xuân Hiến và chị Triệu Thị Thu Thủy phải chịu 8.370.263đ án phí đối với tài sản được chia. Anh Đào Văn Lâm phải chịu 8.565.442đ án phí đối với tài sản được chia. Anh Đào Văn Dũng phải chịu 8.545.225đ án phí đối với tài sản được chia. Anh Đào Văn Hậu phải chịu 8.534.922đ án phí đối với tài sản được chia.
Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự".
Nơi nhận: - VKSND thành phố Việt Trì; - CCTHADS thành phố Việt Trì; - UBND xã Kim Đức; - Các đương sự; - Lưu HS, AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Cao Thị Đào |
Bản án số 58/2024/HNGĐ-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 58/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà N xin ly hôn ông H
