|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY TỈNH THÁI BÌNH Bản án số: 58/2024/HNGĐ-ST Ngày 27 - 9 - 2024 V/v hôn nhân gia đình |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Vương.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Thị Thu Hà và bà Nguyễn Thị Thơ.
Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Diệu Thúy.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy tham gia phiên tòa:
Bà Đặng Thị Xuân Mai - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình xét xử công khai sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 83/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân gia đình”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 28/2024/QĐ – HPT ngày 12/9/2024 giữa:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị H, sinh năm 1981 ( Có mặt)
- Bị đơn: Anh Lê Ngọc Q, sinh năm 1982 (Vắng mặt lần thứ hai không có lý do)
Cùng nơi cư trú: Số nhà B, đường C, tổ dân phố B, thị trấn D, huyện T, tỉnh Thái Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các lời khai tiếp theo và tại phiên tòa nguyên đơn chị Trần Thị H trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Lê Ngọc Q tự nguyện tìm hiểu và kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện T, tỉnh Thái Bình vào ngày 11/4/2006. Quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng chung sống bình thường đến năm 2018 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp, bất đồng trong cuộc sống, sinh hoạt, làm ăn, vợ chồng đã sống ly thân năm 2019 đến nay không còn quan tâm đến nhau. Từ khi sống ly thân, anh Q bỏ đi làm ăn ở miền nam, không về thăm mẹ con chị. Tuy nhiên anh Q1 vẫn gọi điện về nhà cho các con, anh Q lắp camera tại phòng khách của gia đình chị để quan sát cuộc sống hàng ngày của 03 mẹ con chị và gửi tiền đóng học cho các con qua bưu điện. Khi chị hỏi địa chỉ hiện nay của anh Q ở đâu thì anh Q không nói. Khi chị gửi đơn xin ly hôn, thông báo thụ lý vụ án. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể tiếp tục cùng nhau chung sống nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Q.
Về con chung: Chị và anh Lê Ngọc Q có 02 con chung là Lê Trần Khánh L, sinh ngày 13/02/2007 và Lê Bích P, sinh ngày 28/3/2016. Hiện nay chị đang nuôi dưỡng cả hai con chung. Ly hôn, chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung, không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.
Về tài sản chung: Chị và anh Q không có tài sản chung và nợ chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Anh Lê Ngọc Q vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
* Tại biên bản lấy lời khai của cháu Lê Trần Khánh L và cháu Lê Bích P, các cháu trình bày:
Bố mẹ các cháu là Lê Ngọc Q và Trần Thị H. Bố cháu đã đi làm ăn xa từ năm 2019 đến nay không về nhưng bố cháu vẫn gọi điện qua Z để nói chuyện với các cháu. Bố cháu đã biết mẹ cháu xin ly hôn, bố các cháu đồng ý nhưng bận làm ăn ở xa không về. Nếu bố mẹ cháu ly hôn, các cháu đều có nguyện vọng ở cùng mẹ.
* Tại biên bản lấy lời khai chị Nguyễn Thị L1, sinh năm 1982 là hàng xóm giáp ranh nhà anh Q, chị H trình bày:
Giữa chị và anh Q, chị H là hàng xóm, chị được biết anh Q đã đi làm từ khoảng năm 2018, 2019 đến nay chưa về. Nhưng chị vẫn thấy anh Q thường xuyên gọi điện về cho nhà qua Z, và gửi tiền về lắp camera tại phòng khách nhà anh chị để có thể nói chuyện với ba mẹ con chị H.
* Tại biên bản xác minh, UBND thị trấn D cung cấp:
Chị Trần Thị H và anh Lê Ngọc Q là công dân địa phương thị trấn D, huyện T, tỉnh Thái Bình. Anh chị tự nguyên đăng ký kết hôn ngày 11 tháng 4 năm 2006 tại UBND xã M, huyện T, tỉnh Thái Bình là hôn nhân hợp pháp. Anh chị mua nhà và chuyển về sinh sống tại thị trấn D cách đây khoảng 10 năm. Sau đó đến khoảng năm 2019 thì anh Lê Ngọc Q đi làm ăn xa, việc anh Q có về nhà vào các dịp nghỉ lễ hay không và vợ chồng anh chị mâu thuẫn như thế nào địa phương không nắm rõ. Quan điểm của địa phương vợ chồng anh chị đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Vợ chồng chị Trần Thị H và anh Lê Ngọc Q có 02 con chung là Lê Trần Khánh L, sinh ngày 13/02/2007 và Lê Bích P, sinh ngày 28/3/2016. Hiện nay con chung đang ở cùng chị H tại địa phương. Đề nghị Tòa án căn cứ vào điều kiện thực tế và quy định của pháp luật để giải quyết về con chung.
Về tài sản chung: Tại địa phương, không có cơ quan tổ chức hay cá nhân nào có ý kiến về nợ liên quan đến vợ chồng chị H và anh Q.
Tòa án gửi giấy báo cho anh Q nhưng anh Q đi làm ăn lao động tự do, thường xuyên vắng mặt ở địa phương nên không đến Tòa án làm việc. Cán bộ Tòa án cùng địa phương đến nhà anh Q để tống đạt văn bản tố tụng thì anh Q không có mặt ở nhà nên Cán bộ địa phương và Tòa án không giao không tống đạt được văn bản tố tụng và đã tiến hành làm thủ tục niêm yết văn bản theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy phát biểu quan điểm tại phiên tòa:
Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn tuân thủ theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt không có lý do, không có ý kiến trình bày là từ bỏ quyền của mình.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các quy định của pháp luật: áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, Điều 238, Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án: Xử cho chị Trần Thị H ly hôn anh Lê Ngọc Q; Về quan hệ con chung: Giao cho chị Trần Thị H trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là Lê Trần Khánh L, sinh ngày 13/02/2007 và Lê Bích P, sinh ngày 28/3/2016. Về tài sản chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và các bên được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Anh Lê Ngọc Q vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Vì vậy Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt anh Q. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị H có giao nộp cho Tòa án bản tự khai ký tên anh Lê Ngọc Q và Tòa án nhận được 01 bản tự khai ký tên anh Lê Ngọc Q và điểm chỉ với nội dung thuận tình ly hôn cùng chị H nhưng cả hai bản tự khai trên đều không được chứng thực chữ ký, phần điểm chỉ trong bản tự khai không rõ dấu vân tay nên không có căn cứ để xác nhận bản tự khai trên là của anh Lê Ngọc Q.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị H và anh Lê Ngọc Q tự nguyện tìm hiểu và kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn ngày 11 tháng 4 năm 2006 tại UBND xã M, huyện T, tỉnh Thái Bình. Tại thời điểm kết hôn, hai bên đủ điều kiện kết hôn, là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống cả hai đã phát sinh mâu thuẫn nhưng không có biện pháp hàn gắn tình cảm vợ chồng. Anh chị đã sống ly thân khoảng 5 năm nay. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, chị H giữ nguyên quan điểm xin ly hôn, anh Lê Ngọc Q tuy không có mặt tại địa phương nhưng đã được thông báo về việc chị H xin ly hôn anh nhưng anh Q không có văn bản hợp pháp trình bày quan điểm gửi đến Tòa án và không đến Tòa án để trình bày quan điểm và hòa giải chứng tỏ anh Q không tha thiết việc đoàn tụ với chị H. Từ những căn cứ trên, HĐXX thấy rằng tình trạng hôn nhân của chị H và anh Q đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần xử cho anh Q được ly hôn chị H là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[3] Về quan hệ con chung: Chị Trần Thị H và anh Lê Ngọc Q có 02 con chung là Lê Trần Khánh L, sinh ngày 13/02/2007 và Lê Bích P, sinh ngày 28/3/2016. Ly hôn, chị H thể hiện quan điểm được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung. Xét thấy thực tế hiện nay chị H đang nuôi dưỡng cháu, để giữ sự ổn định cho các cháu cần chấp nhận nguyện vọng của chị H. Về cấp dưỡng nuôi con chung, các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết, khi nào các đương sự có yêu cầu sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.
[4] Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Chị Trần Thị H và anh Lê Ngọc Q không đề nghị Tòa án giải quyết nên không đặt ra giải quyết. Khi nào các đương sự có yêu cầu sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.
[5] Về án phí: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án anh T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
[6] Về quyền kháng cáo: Chị Trần Thị H và anh Lê Ngọc Q có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật tại Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, Điều 227, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án;
Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trần Thị H ly hôn anh Lê Ngọc Q.
Về con chung: Giao cho chị Trần Thị H trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là Lê Trần Khánh L, sinh ngày 13/02/2007 và Lê Bích P, sinh ngày 28/3/2016. Anh Lê Ngọc Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Q có quyền thăm nom chăm sóc con chung. Chị Trần Thị H và anh Lê Ngọc Q có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con chung, mức cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Chị Trần Thị H phải chịu 300.000 đồng. Đối trừ số tiền 300.000 đồng chị H đã nộp tạm ứng áp phí theo biên lai thu số 0004169 ngày 17/6/2024 sang tiền án phí, chị H đã thi hành xong.
Về quyền kháng cáo: Chị Trần Thị H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án và anh Lê Ngọc Q có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Vương |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Bản án số 58/2024/HNGĐ-ST ngày 27/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hôn nhân gia đình
- Số bản án: 58/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chị H ly hôn anh Q
