Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH

TỈNH THÁI NGUYÊN

Bản án số: 58/2024 HNGĐ-ST

Ngày: 27/9/2024

"V/v tranh chấp Ly hôn”

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Hồng Mây

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Dương Viết Vĩnh

2. Ông Nguyễn Văn Hải

Thư ký Toà án phiên toà:

Ông Nguyễn Văn Giáp - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình:

Ông Đàm Hoàng Sơn, Chức vụ Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 138/2024/TLST-HNGĐ ngày 02/7/2024 về việc ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/QÐST-HNGĐ ngày 30/8/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1989

Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Â, Thành phố Y, tỉnh Yên Bái

Bị đơn: Anh Dương Văn T1, sinh năm 1986

Nơi cư trú: Xóm T, xã X, huyện P, tỉnh Thái Nguyên

(Chị T có mặt, anh T1 vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và lời khai tại phiên toà chị Nguyễn Thị Thu T trình bày: Chị và anh Dương Văn T1 kết hôn năm 2011 và làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện P, tỉnh Thái Nguyên trên cơ sở tự nguyện.

Quá trình chung sống vợ chồng chị xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung khiến cho cuộc sống gia đình luôn căng thẳng, không hạnh phúc. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2019, không còn quan tâm đến nhau nữa, cũng trong thời gian này vợ chồng thường có những lời lẽ xúc phạm, đe doạ nhau, khiến chị vô cùng mệt mỏi. Bản thân anh T1 cũng không đến toà hoà giải, hay có biện pháp gì cải thiện. Vì vậy, chị xác định không còn tình cảm, mâu thuẫn đã ở mức trầm trọng đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn anh T1.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung Dương Ngọc M, sinh ngày 24/8/2011 và Dương Quỳnh C, sinh ngày 29/7/2014. Khi ly hôn chị có nguyện vọng trực tiếp nuôi cả hai con chung. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị và anh T1 tự thoả thuận, chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Dương Văn T1: Toà án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Toà án cho anh T1 để anh đến Toà viết bản tự khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên toà nhưng anh T1 đều vắng mặt.

Tòa án xác minh tại Công an xã X được cung cấp hiện nay anh T1 có ĐKHKTT và nơi cư trú tại xóm T, xã X, huyện P, tỉnh Thái Nguyên

Trong quá trình giải quyết vụ án, do anh T1 đang đi làm, thường xuyên vắng nhà, bản thân anh T1 không hợp tác giải quyết việc ly hôn. Toà án đã lập biên bản với bà Hoàng Thị C1 là mẹ đẻ của anh T1 đồng thời tống đạt các văn bản tố tụng cho anh T1 theo quy định.

Bà C1 cho biết vợ chồng chị T và anh T1 sống ly thân đã lâu, nguyên nhân vì sao bà không rõ, con chung hiện đang ở với mẹ. Anh T1 đi làm nghề lái xe đường dài nên hay vắng nhà, các văn bản tố tụng của toà anh T1 đã nhận được nhưng do bận công việc nên không thể sắp xếp công việc đến toà được. Nay chị T có đơn ly hôn bà C1 đề nghị Toà án giải quyết theo quy định pháp luật.

Do anh T1 vắng mặt không có lý do nên Toà án đưa vụ án ra xét xử công khai.

Tại phiên toà, chị T giữ nguyên quan điểm xin ly hôn anh T1, nguyện vọng nuôi cả hai con chung, không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu giải quyết.

Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

  1. 1. Việc tuân theo pháp luật tố tụng:

    - Việc tiếp nhận đơn của Tòa án, việc thụ lý đơn khởi kiện và quá trình giải quyết của Hội đồng xét xử và việc tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định của BLTTDS;

    - Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng; bị đơn không thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71, 72 BLTTDS.

  2. 2. Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX Căn cứ các Điều 28, 35, 39 BLTTDS, Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Nghị quyết 326 của Quốc hội, giải quyết theo hướng:

    Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thu T, cho chị T được ly hôn với anh T1.

    Về con chung: Giao cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cả hai con chung đến khi con trường thành (đủ 18) tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật.

    Anh T1 không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi cần thiết chị T và anh T1 có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.

    Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Không giải quyết do chị T không có yêu cầu.

    Về sản chung, nợ chung: Không giải quyết do không có yêu cầu.

    Về án phí: Chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án ly hôn căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện. Bị đơn anh T1 có nơi cư trú tại xã X, huyện P, căn cứ vào điểm a khoản 1, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Bình.

Tại phiên tòa bị đơn anh T1 vắng mặt không có lý do, Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập phiên tòa lần thứ hai nhưng anh T1 vẫn vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt anh T1.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thu T kết hôn với anh Dương Văn T1 năm 2011 đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện P trên cơ sở tự nguyện do đó được công nhận là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn, vợ chồng nảy sinh nhiều mâu thuẫn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, không có tiếng nói chung, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2019. Nay chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn xin được ly hôn với anh T1. Anh T1 mặc dù đã được toà án tống đạt các văn bản, quyết định liên quan nhưng không hợp tác để hòa giải đoàn tụ. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng chị T, anh T1 đã ở mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, chị T xác định tình cảm không còn và kiên quyết xin ly hôn vì vậy việc duy trì quan hệ hôn nhân cũng không mang lại hạnh phúc cho cả hai nên chấp nhận đơn ly hôn của chị T, cho chị được ly hôn với anh T1 như vậy là phù hợp với thực tế và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[3]. Về con chung: Chị T và anh T1 có 02 con chung là Dương Ngọc M, sinh ngày 24/8/2011 và Dương Quỳnh C, sinh ngày 29/7/2014. Khi ly hôn chị T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, chị xác định có đủ điều kiện về thu nhập và nơi ở để có thể chăm sóc và nuôi dạy con một cách tốt nhất, từ khi sống ly thân các con sống cùng chị T. Quá trình giải quyết anh T1 không hợp tác nên không có quan điểm về giải quyết con chung khi ly hôn. Các con của anh T1 và chị T đều có nguyện vọng được ở với mẹ. Xét thấy, cần đảm bảo sự phát triển ổn định tâm sinh lý của trẻ nhỏ và điều kiện chăm sóc, giáo dục của chị T. Khi ly hôn giao cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng cháu Dương Ngọc M và Dương Quỳnh C cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác như vậy là phù hợp với thực tế và Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.

Về quyền thăm nom con chung: Anh T1 không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi cần thiết chị T và anh T1 có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: chị T không có yêu cầu nên HĐXX không giải quyết.

[4]. Về tài sản chung và nợ chung: Do chị T không có yêu cầu và anh T1 không có mặt ở Tòa án nên Tòa án không giải quyết, nếu các đương sự có tranh chấp sẽ giải quyết bằng một vụ án khác.

[5]. Về án phí, quyền kháng cáo: Chị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật và được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Bình. Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, 146, 147, khoản 2 Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án có hiệu lực thi hành từ ngày 01.01.2017.

Tuyên xử:

  1. 1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thu T, cho chị T được ly hôn anh Dương Văn T1.
  2. 2. Về con chung: Giao cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung Dương Ngọc M, sinh ngày 24/8/2011 và Dương Quỳnh C, sinh ngày 29/7/2014 đến khi con trường thành đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật.

    Anh T1 không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi cần thiết chị T và anh T1 có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.

  3. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Không giải quyết do chị T không có yêu cầu.
  4. 3. Về tài sản chung và nợ chung: Do chị T không có yêu cầu nên Tòa án không giải quyết, nếu các đương sự có tranh chấp sẽ giải quyết bằng một vụ án khác.
  5. 4. Về án phí: Chị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước, được chuyển từ tạm ứng án phí sang theo biên lai thu số 0003884 ngày 02/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Bình.
  6. 5. Quyền kháng cáo: Báo cho các đương sự biết trong hạn 15 ngày, chị T được quyền kháng cáo bản án kể từ ngày tuyên án; anh T1 được quyền kháng cáo bản án kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết bản án tại địa phương.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND huyện Phú Bình;
  • - CC THADS huyện Phú Bình;
  • - UBND xã Xuân Phương, h. Phú Bình;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hồng Mây

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 58/2024 HNGĐ-ST ngày 27/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp ly hôn (hôn nhân gia đình)

  • Số bản án: 58/2024 HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn (Hôn nhân gia đình)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger