Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BẮC BÌNH

TỈNH BÌNH THUẬN.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 30-9-2024

V/v “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH-TỈNH BÌNH THUẬN

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thanh Thảo

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phạm Thị Bích Lệ

2. Bà Táo Thị Mộng Quyên

-Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Chiêm Vân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình tham gia phiên toà:

Bà Nguyễn Thị Như Thủy-Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 63/2024/TLST-HNGĐ, ngày 14 tháng 3 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn và nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:65/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 09 tháng 9 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 45/2024/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Tạ Thị Cẩm T, sinh năm 1995(có mặt).

Địa chỉ: Thôn T, xã S, huyện B, tỉnh Bình Thuận.

Bị đơn: Anh Nguyễn Đỗ Hoàng A, sinh năm 1993(vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn T, xã S, huyện B, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Tạ Thị Cẩm T trình bày: Về hôn nhân chị Tạ Thị Cẩm T và anh Nguyễn Đỗ Hoàng A tìm hiểu và tự nguyện sống chung đến ngày 28/7/2015 chị T và anh A đăng ký kết hôn tại UBND xã S. Sau khi kết hôn phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân cách sống không hợp kéo dài đến tháng 6 năm 2023 chị T dẫn con về nhà mẹ ở tại L ở tạm đến nay.Chị T cho rằng không còn tình cảm nên yêu cầu được ly hôn anh Nguyễn Đỗ Hoàng A.

-Về con chung: Chị Tạ Thị Cẩm T cho rằng sau khi kết hôn chị T và anh A có 1 người con chung là Nguyễn Đỗ Hoàng P, sinh ngày 04/6/2015. Ngoài ra, trong quá trình quen nhau chưa kết hôn, giữa chị T và anh A có 02 người con chung là: Tạ Thị Ngọc T1, sinh ngày 17/11/2011, Tạ Thị Hồng H, sinh ngày 24/9/2013.Vì vậy, chị T yêu cầu Tòa án giải quyết con chung vợ chồng là 3 người con. Chị T yêu cầu nuôi 2 con chung là Tạ Thị Ngọc T1 và Tạ Thị Hồng H, giao con chung là P cho anh A trực tiếp nuôi. Không yêu cầu bên nào cấp dưỡng nuôi con chung. Tuy nhiên, hiện nay con là H và Tin chị T và anh A không cung cấp chứng cứ xác định là con chung giữa chị T với anh A để Tòa án có căn cứ giải quyết tranh chấp về việc nuôi con chung. chị T không đưa con đến Tòa án ghi lời khai nguyện vọng của con khi cha mẹ ly hôn.Sau đó chị T không đến Tòa án để tiếp tục hòa giải, mặc dù đã được Tòa án thông báo, niêm yết tống đạt thủ tục tố tụng cho nguyên đơn.

- Về tài sản chung và nợ chung: Chị T xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Nguyễn Đỗ Hoàng A trình bày trong quá trình tố tụng: Về hôn nhân thống nhất như chị T về việc chung sống như vợ chồng giữa anh A và chị T và cho rằng do không hợp nhau nên đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị T.

-Về con chung: Anh Tú thừa nhận có con chung là 3 người con như chị T trình bày nhưng anh Nguyễn Đỗ Hoàng A trình bày con hiện nay anh đang trực tiếp nuôi là Tạ Thị Hồng H và Nguyễn Đỗ Hoàng P, con chung là Tạ Thị Ngọc T1 chị T đang nuôi, khi hòa giải anh thống nhất về thỏa thuận nuôi con như chị T yêu cầu nhưng do khi thỏa thuận anh chưa hỏi ý kiến con chung là H nên sau khi anh thỏa thuận về nuôi con với chị T, các con không đồng ý nên anh A thay đổi thỏa thuận nuôi con và cũng không đồng ý đưa con là H và P đến Tòa án để lấy lời khai nguyện vọng của con.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn vẫn yêu cầu khởi kiện xin ly hôn anh Nguyễn Đỗ Hoàng A.

Về con chung: Nguyên đơn thay đổi và rút một phần về yêu cầu giải quyết con chung, chị T yêu cầu Tòa án giải quyết con chung là Nguyễn Đỗ Hoàng P, sinh ngày 04/6/2015.Đối với con là Tạ Thị Ngọc T1, sinh ngày 17/11/2011, Tạ Thị Hồng H, sinh ngày 24/9/2013 hiện nay chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết là con chung vợ chồng vì chưa có căn cứ pháp lý xác định Tạ Thị Ngọc T1 và Tạ Thị Hồng H là con của anh Nguyễn Đỗ Hoàng A.

Bị đơn Nguyễn Đỗ Hoàng A vắng mặt tại phiên tòa lần hai không có ý kiến gì khác.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình phát biểu ý kiến đối với vụ án:

  • + Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do, Kiểm sát viên đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Đối với Thẩm phán không lấy lời khai con trên 7 tuổi dưới 18 tuổi để xét nguyện vọng của con là vi phạm khoản 3 Điều 208 BLTTDS.
  • + Về việc giải quyết vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227 và Điều 228 BLTTDS năm 2015; Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật HNGĐ năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban T3 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

+ Về hôn nhân: Chấp nhận chị Tạ Thị Cẩm T được ly hôn anh Nguyễn Đỗ Hoàng A.

+ Về con chung:Giao 01 con chung tên Nguyễn Đỗ Hoàng P, sinh 04/6/2015 cho anh Nguyễn Đỗ Hoàng A trực tiếp nuôi dưỡng.

Đối với cháu tên Tạ Thị Ngọc T1, sinh ngày 17/11/2011 và Tạ Thị Hồng H, sinh ngày 24/9/2013 chị T rút yêu cầu Tòa án giải quyết vì chị T chưa cung cấp được cha của cháu T1 và H là anh Nguyễn Đỗ Hoàng A nên chị T rút yêu cầu là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết con chung là H và Tin.

Đối với cấp dưỡng nuôi con chung, do anh A không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét.

Tài sản chung và nợ chung: Chị T và anh A xác định không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.

Về nghĩa vụ nộp án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Tòa án nhận định:

[1]Về thủ tục tố tụng: Căn cứ vào tài liệu yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn và giải quyết con chung với Nguyễn Đỗ Hoàng A có hộ khẩu tại xã S, huyện B thuộc trường hợp tranh chấp ly hôn nên Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình thụ lý là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Tại phiên tòa, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo là phù hợp khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

[2.1]Về quan hệ hôn nhân: Chị Tạ Thị Cẩm T và anh Nguyễn Đỗ Hoàng A chung sống như vợ chồng có đăng ký kết hôn năm 2015 tại UBND xã S ngày 28/7/2015(theo trích lục kết hôn) nên hôn nhân giữa chị T và anh A là hôn nhân hợp pháp, phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng.Vì vậy, vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau cùng nhau chia sẻ thực hiện các công việc trong gia đình để cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nhưng chị Tạ Thị Cẩm T cho rằng không hợp nhau và đã tự đi sống riêng, không còn sống chung chăm lo kinh tế gia đình, nuôi dạy con, ảnh hưởng đến tình cảm vợ chồng. hiện nay cả hai xác định không còn tình cảm và anh A đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị T nên Hội đồng xét thấy có căn cứ cho rằng hôn nhân giữa chị T và anh A đã vi phạm nghĩa vụ vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận chị Tạ Thị Cẩm T được ly hôn anh Nguyễn Đỗ Hoàng A được quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[2.2]Về con chung: Chị Tạ Thị Cẩm T cho rằng có 3 con chung là Tạ Thị Hồng H, sinh ngày 24/9/2013,Tạ Thị Ngọc T1, sinh 17/11/2011 và Nguyễn Đỗ Hoàng P, sinh ngày 04/6/2015 nhưng tại phiên tòa chị T xác định con chung là Nguyễn Đỗ Hoàng P, sinh ngày 04/6/2015. Hiện nay con đang sống chung với anh A, chị T yêu cầu giao anh A tiếp tục nuôi con, chị T không cấp dưỡng nuôi con, yêu cầu của chị T anh A đồng ý tại biên bản hòa giải việc chị T và anh A thỏa thuận về nuôi con chung nhưng không đồng ý đưa con đến Tòa án để xem xét nguyện vọng đối với con nên Hội đồng xét xử xét thấy con đang do anh T nuôi ổn định, chị T và anh A đã thỏa thuận giao anh A tiếp tục nuôi con, việc thỏa thuận này không làm ảnh hưởng quyền lợi của con, phù hợp quy định tại Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên chấp nhận.

[2.2]Đối với cháu tên Tạ Thị Ngọc T1, sinh ngày 17/11/2011 và Tạ Thị Hồng H, sinh ngày 24/9/2013, trên giấy khai sinh của cháu Tạ Thị Ngọc T1, sinh ngày 17/11/2011(giấy khai sinh số 343/2011) thể hiện cháu T1 có mẹ là Tạ Thị Cẩm T, đối với tên cha hiện nay bỏ trống không có tên anh Nguyễn Đỗ Hoàng A và Tạ Thị Hồng H, sinh ngày 24/9/2013(tại giấy khai sinh số 297/2013) cháu H có tên mẹ là Tạ Thị Cẩm T nhưng phần tên cha bỏ trống, không thể hiện cha là Nguyễn Đỗ Hoàng A nên chị T rút yêu cầu Tòa án giải quyết con chung vợ chồng với anh Nguyễn Đỗ Hoàng A là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận đình chỉ về rút một phần yêu cầu giải quyết con chung của nguyên đơn Tạ Thị Cẩm T được quy định tại Điều 244 BLTTDS.

[2.3]Đối với cấp dưỡng nuôi con: Anh Nguyễn Đỗ Hoàng A không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con chung nên không xét.

[3]Về tài sản và nợ chung: Chị Tạ Thị Cẩm T xác định vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét theo quy định tại Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[5]Về án phí: Chị Tạ Thị Cẩm T phải nộp án phí theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu,miễn giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30 tháng 12 năm 2016.

[6]Đối với ý kiến của Đại diện viện kiểm sát về quan điểm giải quyết nội dung vụ án phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Đối với tố tụng đại diện VKS cho rằng Thẩm phán không lấy lời khai con trên 7 tuổi là vi phạm khoản 3 Điều 208 BLTTDS, Hội đồng xét xử thấy Tòa án đã có yêu cầu đương sự là anh A, chị T đưa con đến Tòa để xem xét nguyện vọng của con nhưng đương sự từ chối tại biên bản lấy lời khai (BL16 ) vì cho rằng không muốn làm ảnh hưởng tâm lý con. Hiện nay con đang do anh A nuôi dưỡng ổn định được chị T tin tưởng tiếp tục giao con, không có ý kiến phản hồi nào của chị T hoặc của cơ quan bảo vệ trẻ em cho rằng con không muốn ở với anh A.Vì đây là vụ án hôn nhân gia đình liên quan đến con chưa thành niên, không phải vụ án tranh chấp về nuôi con khi ly hôn hoặc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn nên Thẩm phán không cần thiết buộc phải tiếp tục lấy lời khai con chưa thành niên nên không vi phạm khoản 3 Điều 208 BLTTDS.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 238; Điều 5; Điều 244 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 51; Điều 19; Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Tuyên xử: -Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Tạ Thị Cầm T2.

  • +Về hôn nhân: Chị Tạ Thị Cầm T được ly hôn anh Nguyễn Đỗ Hoàng A.
  • +Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Đỗ Hoàng P, sinh ngày 04/6/2015 cho anh Nguyễn Đỗ Hoàng A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi trưởng thành.Chị Tạ Thị Cầm T được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung, không ai được cản trở.
  • +Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Anh Nguyễn Đỗ Hoàng A không yêu cầu nên không xét.
  • Đình chỉ xét xử đối với con tên Tạ Thị Hồng H, sinh ngày 24/9/2013, Tạ Thị Ngọc T1, sinh 17/11/2011.

-Về tài sản chung, nợ chung: Chị Tạ Thị Cẩm T xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

-Về án phí: Bà Tạ Thị Cẩm T phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị T đã nộp theo biên lai thu số 0008651 ngày 14/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bắc Bình.Chị T đã nộp đủ án phí.

-Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND huyện Bắc Bình;
  • - Chi cục THADS huyện Bắc Bình;
  • - Đương sự;
  • - UBND xã Sông Bình (hộ tịch)
  • - Lưu: V.P, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Thanh Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 60/2024/HNGĐ-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp ly hôn và nuôi con chung

  • Số bản án: 60/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện về xin ly hôn, đình chỉ giải quyết đối với con không có tên cha là Hoàng Tú A do chị T rút 1 phần yêu cầu, giao con chung cho chị T nuôi dưỡng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger