Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2024/HS-ST

Ngày: 26 - 9 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Mạnh Hùng
Thẩm phán: Ông Nguyễn Công Hoàn
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Tuấn Anh
2. Ông Nguyễn Xuân Hiệp
3. Ông Lê Ngọc Phúc

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Bảo Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Trung Kiên - Kiểm sát viên.

Ngày 26-9-2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 39/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 6 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 329/2024/QĐXXST-HS ngày 12/9/2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Bạch V; sinh năm: 1973, tại Lâm Đồng; giới tính: Nữ; nơi ĐKHKTT: SỐ A Khu phố H, thị trấn D, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; nơi tạm trú và cư trú: Số B V, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ học vấn: 9/12; con ông: N, đã chết; con bà: Huỳnh Thị T; chồng: Trần Kỳ T1, sinh năm 1967; con: Có 2 con, lớn sinh năm 1996, nhỏ nhất sinh 2001; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt ngày 14/10/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh L. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Phạm Thị Thanh N – Văn phòng Luật sư Phạm Thị Thanh N – Đoàn Luật sư tỉnh L. Có đơn xin xét xử vắng mặt và gửi bài bào chữa.

- Bị hại: Bà Phạm Thị H, sinh năm 1968; nơi cư trú: Tổ A, Phường D, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

- Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1992; nơi ĐKHKTT: Xóm A, thôn C, xã H, huyện L, tỉnh Hà Nam; nơi cư trú: B, chung cư M, Phường D, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
  2. Ông Nguyễn Xuân T3, sinh năm 1970; nơi cư trú: Tổ dân phố A, thị trấn D, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
  3. Ông Phùng Minh V1, sinh năm 1970; nơi ĐKHKTT: Số B H, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; nơi tạm trú và cư trú: Số B V, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
  4. Bà Trần Thị P, sinh năm 1993; nơi ĐKHKTT: Số D N, phường H, thị xã D, tỉnh Hà Nam; nơi tạm trú và cư trú: Số C H, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
  5. Bà Lý Thị Thanh C, sinh năm 2001; nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố B, thị trấn D, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; nơi tạm trú và cư trú: Số F Phường A, C, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ mới: Số C đường A, Phường E, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tháng 10/2021, Nguyễn Thị Bạch V do nợ tiền của nhiều người nhưng không có khả năng trả nợ và một phần cũng vì cần tiền để sử dụng vào mục đích cá nhân nên khi gặp và quen bà Phạm Thị H, biết bà H đang tìm người chữa mắt nên V đã nảy sinh ý định Lừa đảo chiếm đoạt tiền của bà H. Để cho bà H tin tưởng V đã đưa thông tin không có thật bằng cách nói có Ông Năm M chuyên chữa trị bệnh bằng phương pháp tâm linh, chỉ cần đưa tiền để cúng bái, yểm bùa thì bệnh sẽ khỏi. Khi thấy bà H tin là thật, V đã sử dụng sim điện thoại không đăng ký chính chủ để gọi điện cho bà H nhiều lần, V giả giọng và tự xưng là Ông Năm M nhiều lần gọi điện đưa ra thông tin không đúng sự thật để bà H tin tưởng giao tiền như: Chữa mắt; cúng bái cho con trai hết bệnh, được sống lâu; cúng mua tuổi cho con trai; nuôi vàng non dưới nền nhà...

Để cho bà H tin tưởng việc “Ông N1 mù” chữa bệnh tâm linh là thật. V nhiều lần đưa các đồ vật cho bà H gồm: Gói giấy tiền vàng mã (tiền âm phủ), được dán kín băng keo nói là giấy làm bùa, yêu cầu bà H phải mang về bỏ vào gối kê khi ngủ nói để yểm bùa cho con cái dễ làm ăn; Đưa hai hũ sứ màu trắng (V mua ở chợ L - Đ) nói bà H đem về chôn dưới đất trong khuôn viên nhà để lấy vàng non dưới đất của bà H, khi nào vàng già thì đào lên đem bán, sau khi chôn hai hũ sứ được khoảng 01 tháng thì V đóng vai “Ông N1 mù” điện thoại yêu cầu bà H đào lên và nói bà H đưa cho V 10 túi nilong màu đen để đựng tiền; sau đó V giao tiếp cho bà H 02 (hai) bịch nilong màu đen nói bên trong có tiền nói bà H mang về cất với mục đích để giữ của trong nhà không được mở ra sử dụng; sau đó V tiếp tục đưa cho bà H một vật màu xanh mực đậm, nhìn giống đá, hình chóp nón và nói là viên kim cương (thực tế vật này được làm bằng đá mà V đã mua tại Chợ L - huyện Đ với giá 120.000₫). V nói bà H bỏ viên kim cương này trong bát nhang để thờ cúng hút tài lộc, V còn mua bát nhang mới để đưa cho bà H để đựng viên kim cương thờ cúng.

Do tin tưởng các thông tin mà V đưa ra là có thật, nên bà H đã nhiều lần đưa tiền mặt hoặc chuyển khoản cho V cụ thể:

Đối với số tiền chuyển khoản thì V yêu cầu bà H đến Bưu điện thành phố Đ và Cửa hàng V3 Phan Đình P1 chuyển tiền vào tài khoản của V tại Ngân hàng B1 đứng tên Nguyễn Thị Bạch V để V chuyển tiền cho “Ông N1 mù”, ngoài ra V còn nói với bà H chuyển tiền vào tài khoản số 5405205257282 tại Ngân hàng A đứng tên của Lý Thị Thanh C là con gái nuôi của V. V nói với bà H đây là tài khoản của “Ông N1 mù”. Cụ thể: Số tiền bà H đến Cửa hàng V3 để chuyển khoản vào tài khoản B1 của V tổng cộng 03 (ba) lần với số tiền là: 21.600.000₫ (hai mươi mốt triệu sáu trăm ngàn đồng), nộp tiền vào tài khoản của Lý Thị Thanh C tổng cộng 05 (năm) lần với số tiền là 87.320.000đ (tám mươi bảy triệu ba trăm hai mươi ngàn đồng). Số tiền bà H đến Bưu điện thành phố Đ để chuyển khoản vào tài khoản BIDV của V tổng cộng 23 (hai mươi ba) lần với tổng số tiền là 224.820.000đ (hai trăm hai mươi bốn triệu tám trăm hai mươi ngàn đồng). Tổng cộng số tiền bà H đã chuyển khoản cho V là 333.740.000đ (ba trăm ba mươi ba triệu bảy trăm bốn mươi ngàn đồng). Sau khi nhận tiền V chuyển tiền cho nhiều người, nhiều tài khoản khác nhau để trả nợ tiền góp và tiêu xài cá nhân.

Ngoài số tiền chuyển khoản trên thì bà H nhiều lần giao tiền cho V bằng hình thức giao tiền mặt, lần thấp nhất 12 triệu đồng, cao nhất là 50 triệu đồng. Sau khi nhận tiền thì V đến Cửa hàng V3 để nộp tiền vào tài khoản của Lý Thị Thanh C với tổng cộng 27 lần với số tiền là 216.750.000đ (hai trăm mười sáu triệu bảy trăm năm mươi ngàn đồng). Số tiền còn lại thì trong thời gian từ ngày 01/10/2021 đến ngày 31/6/2022 V đã đưa tiền mặt cho con gái nuôi là Lý Thị Thanh C đến cửa hàng Đ, đối diện UBND thị trấn D để ông Nguyễn Xuân T3 nộp tiền vào tài khoản của C, sau khi nhận được tiền thì V nhờ C chuyển khoản vào các tài khoản khác để trả nợ cho các khoản nợ của V, ngoài ra có một vài khoản khác thì V đưa cho C để sinh hoạt trong gia đình. Căn cứ vào sao kê tài khoản của C thì có 41 (bốn mốt) lần ông Nguyễn Xuân T3 chuyển khoản với tổng số tiền là 191.400.000đ (một trăm chín mươi mốt triệu bốn trăm ngàn đồng). Ngoài những khoản tiền ở trên thì đối với khoản tiền mặt mà bà H đưa cho bị cáo thì bị cáo còn sử dụng vào mục đích cá nhân số tiền 100 triệu đồng.

Như vậy, tổng số tiền V đã chiếm đoạt của bà Phạm Thị H là 841.890.000đ (tám trăm bốn mươi mốt triệu tám trăm chín mươi ngàn đồng). (BL 393,394)

Vật chứng thu thập thập giữ:

  • 01 (một) vật hình chóp nón đa diện, màu xanh mực đậm, không rõ chất liệu gì, chiều cao 04 cm, đường kính đáy 03cm; Do Nguyễn Thị H1 giao nộp (BL 195)
  • 01 (một) điện thoại điện thoại di động OPPO, Kiểu máy: CPH 1989; IMEI 1: 869563046385230; IMEI2: 869563046385222; màu trắng xanh. (BL 212)
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu NOKIA 105, Màu đen, bên trong có gắn 01 (một) Sim điện thoại số 0941.290.xxx.(BL 210)
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu NOKIA 216, màu xám, đã qua sử dụng, có gắn 02 (hai) sim điện thoại (BL 08).
  • 01 (một) CCCD mang tên Nguyễn Thị Bạch V số [...], cấp ngày 20/8/2021; (đã trả lại cho bị cáo) (BL 08).

Ngoài ra quá trình điều tra xác định: Bị cáo Nguyễn Thị Bạch V và ông Trần Kỳ T1, có đứng tên tài sản là quyền sử dụng đất thửa đất số 447, tờ bản đồ số 33, diện tích: 179m2, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BA 882797 được UBND huyện Đ cấp ngày 26/6/2010. Ngày 23/5/2024, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh L, đã ra Lệnh kê biên tài sản số: 272/LKB-VPCQCSĐT đối với tài sản nêu trên. (BL 27)

Cáo trạng số 38/CT-VKS-P2 ngày 20/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Bạch V về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã quy kết, không thắc mắc, khiếu nại nội dung bản cáo trạng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng giữ nguyên cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo. Về tội danh căn cứ vào điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự, đề nghị tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Bạch V phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Về hình phạt, áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Bạch V từ 13 (mười ba) năm đến 15 (mười lăm) năm tù.

Về phần trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo bồi thường 841.890.000đ (tám trăm bốn mươi mốt triệu tám trăm chín mươi ngàn đồng) cho bà Phạm Thị H.

Đề nghị xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46; Điều 47 Bộ Luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy vật chứng không có giá trị sử dụng; tịch thu sung công quỹ đối với các điện thoại bị cáo dùng vào việc phạm tội; tiếp tục duy trì Lệnh kê biên để đảm bảo thi hành án.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Bạch V trình bày luận cứ: Thống nhất với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh và điều luật. Tuy nhiên mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo với lý do hoàn cảnh của bị cáo rất khó khăn; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có cha đẻ là ông Nguyễn T4 được tặng thưởng huân, huy chương nên đề nghị HĐXX áp dụng cho bị cáo mức án thấp nhất để bị cáo sớm có cơ hội làm lại cuộc đời.

Bị cáo, bị hại, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không tranh luận.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội về hòa nhập với xã hội, làm ăn, sớm khắc phục hậu quả do bị cáo gây ra cho bị hại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án không khiếu nại về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được tiến hành hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Thị Bạch V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Để có tiền trả nợ và tiêu xài cá nhân, lợi dụng sự tin tưởng của bà Phạm Thị H nên trong thời gian từ 01/10/2021 đến ngày 31/6/2022, Nguyễn Thị Bạch V đã đưa ra thông tin gian dối, không có thật về việc có “Ông N1 mù” và hứa hẹn nhờ “Ông N1 mù” chữa trị mắt cho bà H bằng phương pháp tâm linh, đưa ra các thông tin không đúng sự thật về việc chữa bệnh, cúng bái, yểm bùa, nuôi vàng, mua kim cương hút tài lộc... làm cho bà H tin tưởng giao tiền cho V. Sau khi nhận được tiền, V đã sử dụng để trả nợ cho các khoản nợ của bản thân và tiêu xài cá nhân. Tổng số tiền Nguyễn Thị Bạch V đã chiếm đoạt của bà Phạm Thị H là 841.890.000₫ (T5 trăm bốn mươi mốt triệu tám trăm chín mươi ngàn đồng).

Như vậy, Cáo trạng số 38/CT-VKS-P1 ngày 20/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Bạch V về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan.

[3] Xét tính chất vụ án là đặc biệt nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại đến khách thể quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội và đời sống của người dân. Bị cáo lợi dụng hoàn cảnh khó khăn về kinh tế và bệnh tật của người bị hại; dùng thủ đoạn mê tín dị đoan để lừa đảo chiếm đoạt số tiền lớn của người bị hại. Do vậy, cần quyết định mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.

[4] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đánh giá nhân thân của bị cáo:

  • Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  • Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo có Cha đẻ là ông Nguyễn T4 là người có công với cách mạng, được Nhà nước tặng thưởng “Huy chương kháng chiến hạng nhất”, “Kỷ niệm chương chiến sĩ cách mạng bị địch bắt, tù đầy”. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Vì vậy áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 46, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 586, khoản 1 Điều 589 Bộ luật Dân sự, tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại số tiền đã chiếm đoạt nên buộc bị cáo Nguyễn Thị Bạch V phải bồi thường cho bị hại Phạm Thị H số tiền đã chiếm đoạt 841.890.000đ (tám trăm bốn mươi mốt triệu tám trăm chín mươi ngàn đồng).

[6] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46; Điều 47 Bộ Luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

6.1. Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) Phong bì được dán kín các mép của phong bì bằng băng keo trong, trên phong bì có dấu tròn đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L, có chữ ký, họ tên: “Đỗ Tiến B, Phạm Thị H, Đặng Châu Bích T6” (Theo biên bản kiểm tra đồ vật, tài liệu ngày 29/8/2023, bên trong chứa: 01 (một) vật hình chóp nón đa diện màu xanh mực đậm, không rõ chất liệu gì, chiều cao 04cm, đường kính đáy 03cm), còn nguyên niêm phong.

6.2. Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 (một) Phong bì được dán kín các mép của phong bì bằng băng keo trong, trên phong bì có dấu tròn đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L, có chữ ký, họ tên: “Đỗ Tiến B, Trần Anh T7, Nguyễn Thị Bạch V” (Theo biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ ngày 08/01/2024), bên trong chứa:

  • 01 (một) điện thoại điện thoại di động OPPO, màu trắng xanh. Kiểu máy: CPH 1989; IMEI 1: 869563046385230; IMEI2: 869563046385222; Số S ri: YPLB5PCEZTT8CERO; Có gắn 02 (hai) sim điện thoại và 01 (một) thẻ nhớ MicroSD màu đen nhãn hiệu KINGSTON, dung lượng 16GB;
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu NOKIA 105, Model: TA-1010, Số IMEI: 357342088445916, Màu đen, bên trong có gắn 01 (một) Sim điện thoại số 0941.290.xxx.
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu NOKIA 216, Model: RM-1187; SỐ IMEI 1: 354497091641613; IMEI 2: 354497094641610; màu xám, có gắn 02 (hai) sim điện thoại gồm: 0817.320.xxx và 0971035964.

6.3. Tiếp tục duy trì Lệnh kê biên tài sản số: 272/LKB-VPCQCSĐT ngày 23/5/2024 đối với quyền sử dụng đất thửa đất số 447, tờ bản đồ số 33, diện tích: 179m2, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BA822797 được UBND huyện Đ cấp ngày 26/6/2010, tại TT Dran, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng của Nguyễn Thị Bạch V giao cho ông Trần Kỳ T1, nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[7] Các tình tiết khác liên quan đến vụ án:

7.1. Đối với chị Lý Thị Thanh C (là con gái nuôi của bị cáo): Do V không biết dùng dịch vụ Internet Banking nên đã mượn tài khoản của Lý Thị Thanh C để bà Phạm Thị H chuyển tiền vào, đồng thời V trực tiếp nộp tiền vào tài khoản cho C sau đó đưa thông tin tài khoản của chủ nợ nhờ C chuyển khoản trả nợ giúp. Ngoài ra V không trao đổi gì liên quan đến bà H, bản thân C không biết nguồn gốc số tiền từ đâu mà có.

7.2. Đối với ông Phùng Minh V1 là người sống chung như vợ chồng với bị cáo nhưng không biết việc làm của bị cáo nên không có cơ sở để xử lý trách nhiệm hình sự với vai trò là đồng phạm với bị cáo.

7.3. Đối với nhân vật “Ông năm mù”, quá trình điều tra, bị cáo V khai nhận do chính bị cáo giả giọng trao đổi với bà H. Do đó vụ án này không có đồng phạm.

7.4. Đối với những người được Nguyễn Thị Bạch V trả nợ (từ nguồn tiền chiếm đoạt của bà Phạm Thị H). Do V trả nợ cho rất nhiều người, nhiều khoản khác nhau, việc trả nợ đều được thực hiện bằng hình thức chuyển khoản nên V không nhớ cụ thể trả cho những người nào, ở đâu. Cơ quan điều tra đã sao kê tài khoản, làm việc được với bà Trần Thị P và Nguyễn Văn T2 là người đã nhận tiền của bị cáo Nguyễn Thị Bạch V, qua làm việc những người này xác định toàn bộ số tiền mà V chuyển đều là để trả nợ cho những khoản vay trước đó của V, những người này không biết nguồn tiền do V trả từ đâu mà có, do đó không đề cập đến trách nhiệm hình sự đối với những người này.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Bạch V phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Bạch V 14 (mười bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam 14/10/2023.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 46, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 586, khoản 1 Điều 589 Bộ luật Dân sự, buộc bị cáo Nguyễn Thị Bạch V bồi thường cho bị hại Phạm Thị H số tiền 841.890.000₫ (tám trăm bốn mươi mốt triệu tám trăm chín mươi ngàn đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, bên phải thi hành án không trả số tiền nêu trên; còn phải trả số tiền lãi, tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả, theo mức lãi suất quy định khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46; Điều 47 Bộ Luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

3.1. Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) Phong bì được dán kín các mép của phong bì bằng băng keo trong, không thể mở ra được, trên phong bì có dấu tròn đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L, có chữ ký, họ tên: “Đỗ Tiến B, Phạm Thị H, Đặng Châu Bích T6” (Theo biên bản kiểm tra đồ vật, tài liệu ngày 29/8/2023, bên trong chứa: 01 (một) vật hình chóp nón đa diện màu xanh mực đậm, không rõ chất liệu gì, chiều cao 04cm, đường kính đáy 03cm), còn nguyên niêm phong.

3.2. Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 (một) Phong bì được dán kín các mép của phong bì bằng băng keo trong, không thể mở ra được, trên phong bì có dấu tròn đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L, có chữ ký, họ tên: “Đỗ Tiến B, Trần Anh T7, Nguyễn Thị Bạch V” (Theo biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ ngày 08/01/2024), bên trong chứa:

  • 01 (một) điện thoại điện thoại di động OPPO, màu trắng xanh. Kiểu máy: CPH 1989; IMEI 1: 869563046385230; IMEI2: 869563046385222; Số S ri: YPLB5PCEZTT8CERO; Có gắn 02 (hai) sim điện thoại và 01 (một) thẻ nhớ MicroSD màu đen nhãn hiệu KINGSTON, dung lượng 16GB;
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu NOKIA 105, Model: TA-1010, Số IMEI: 357342088445916, Màu đen, bên trong có gắn 01 (một) Sim điện thoại số 0941.290.xxx.
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu NOKIA 216, Model: RM-1187; Số IMEI 1: 354497091641613; IMEI 2: 354497094641610; màu xám, có gắn 02 (hai) sim điện thoại gồm: 0817.320.xxx và 0971035964.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 21/6/2024)

3.3. Tiếp tục duy trì Lệnh kê biên tài sản số: 272/LKB-VPCQCSĐT ngày 23/5/2024 đối với quyền sử dụng đất thửa đất số 447, tờ bản đồ số 33, diện tích: 179m2, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BA 882797 được UBND huyện Đ cấp ngày 26/6/2010, tại TT. Dran, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng của Nguyễn Thị Bạch V giao cho ông Trần Kỳ T1, nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

4. Về án phí: Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Thị Bạch V phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 37.256.700 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm. Người vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao Bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chỉ được kháng cáo phần có liên quan đến vụ án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng (02);
  • - VKSNDCC tại Tp HCM (01);
  • - Vụ GĐKT I – TANDTC (01);
  • - Phòng PV06 CA Lâm Đồng (01);
  • - Cơ quan CSĐT CA Lâm Đồng (02);
  • - Cơ quan THAHS CA Lâm Đồng (02);
  • - Sở tư pháp tỉnh Lâm Đồng (01);
  • - Trại tạm giam (02);
  • - Bị cáo (01); Bị hại (01);
  • - Người liên quan (04);
  • - Người bào chữa (03);
  • - Phòng KTNV&THA (054);
  • - Lưu Tòa Hình sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Đỗ Mạnh Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 58/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 58/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Bạch V "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger