Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2024/DS-ST

Ngày 25/9/2024

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Thế Đăng.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nông Thị Liên

2. Ông Dương Ngô Phiên

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Văn Tùng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.

Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thế mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 88/2024/TLST-DS ngày 13/8/2024 về việc “tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 94/2024/QĐXXST-DS ngày 28/8/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 104/2024/QĐST-DS ngày 14/9/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng N (A).

Địa chỉ: Số B L, phường T, quận Đ, Hà Nội

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V – Tổng giám đốc

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đinh Quang V1 – Giám đốc A chi nhánh huyện Y Bắc Giang II

Do ông Vũ Hồng S – Phó Giám đốc A chi nhánh huyện Y đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng.

- Bị đơn: Chị Trần Thị S1, sinh năm 1980

Địa chỉ: Bản T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Anh Nguyễn Văn V2, sinh năm 1979

Địa chỉ: Bản T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

(Ông S, chị S1 và anh V2 đều có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, đại diện của nguyên đơn trình bày:

Ngày 08/05/2012 chị Trần Thị S1 có ký kết Hợp đồng tín dụng số [...]/HDTD với A Chi nhánh huyện Y - B – Phòng G để vay số tiền 30.000.000 đồng, mục đích vay tiền để chăn nuôi, lãi suất vay 17,5%/năm, thời hạn trả nợ là ngày 05/5/2013 phải trả tiền gốc 10.000.000đồng nhưng chị S1 không trả nên chuyển thành nợ quá hạn toàn bộ số tiền gốc và lãi từ ngày 05/05/2013. Ngày 28/6/2024, chị S1 trả nợ gốc : 110.000 đồng, số tiền gốc còn nợ đến thời điểm hiện tại là: 29.890.000 đồng, số tiền lãi tạm tính đến ngày 31/7/2024 là: 67.778.450 đồng. Nay yêu cầu Toà án giải quyết buộc chị Trần Thị S1 thanh toán số tiền đang nợ cho A Chi nhánh huyệnYênThế - Bắc Giang II số tiền tạm tính đến ngày 31/7/2024 là 97.668.450 đồng trong đó số tiền gốc 29.890.000 đồng, số tiền lãi 67.778.450 đồng và số lãi phát sinh cho đến khi trả hết nợ theo lãi suất quy định của A Chi nhánh huyện Y - Bắc Giang II.

- Bị đơn là chị Trần Thị S1 mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng chị không cung cấp ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn V2 trình bày:

Anh vay của Ngân hàng N số tiền 29.890.000đồng về chăn nuôi gia súc, cụ thể là chăn nuôi gà nhưng gà bị dịch chết nên chưa trả được tiền cho Ngân hàng. Nay hoàn cảnh gia đình ông khó khăn nên ông đề nghị Ngân hàng dãn nợ cho anh có thời gian thu xếp trả nợ.

Tại phiên tòa: Ông S đại diện cho ngân hàng yêu cầu chị S1 và chồng là anh V2 phải liên đới trả nợ cho ngân hàng số tiền 98.589.696 đồng trong đó số tiền gốc 29.890.000 đồng, số tiền lãi tạm tính đến ngày 25/9/2024 là 68.699.696 đồng, chị S1 và anh V2 còn phải chịu lãi phát sinh cho đến khi trả hết nợ theo lãi suất quy định của A Chi nhánh huyện Y - Bắc Giang.

Chị S1 và anh V2 có mặt tại phiên tòa đều thừa nhận có vay và còn nợ số tiền như đại diện ngân hàng trình bày, do kinh tế khó khăn nên anh chị chưa trả được nợ và đề nghị ngân hàng giãn nợ cho anh chị trả dần.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào ý kiến đề nghị của các đương sự. Căn cứ vào kết quả thảo luận nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngân hàng N - A gọi tắt là ngân hàng khởi kiện chị S1 yêu cầu trả tiền đã cho vay, đây là quan hệ pháp luật về “tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Chị S1 cư trú tại huyện Y nên theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.
  2. [2] Về yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng đối với chị S1:

    Căn cứ vào lời khai của đại diện Ngân hàng, lời khai của chị S1, anh V2 phù hợp với nội dung hợp đồng tín dụng Ngân hàng cung cấp, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định được: Ngày 08/05/2012 chị Trần Thị S1 có ký kết Hợp đồng tín dụng số [...]/HDTD với A Chi nhánh huyện Y - B – Phòng G để vay số tiền 30.000.000 đồng, mục đích vay tiền để chăn nuôi, lãi suất vay 17,5%/năm, thời hạn trả nợ là ngày 05/5/2013 phải trả tiền gốc 10.000.000đồng. Các thỏa thuận giữa hai bên phù hợp các quy định tại Điều 91, Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010. Sau khi vay tiền, chị S1 không trả nợ như cam kết nên chuyển thành nợ quá hạn toàn bộ số tiền gốc và lãi từ ngày 05/05/2013. Ngày 28/6/2024, chị S1 trả nợ gốc : 110.000 đồng, số tiền gốc còn nợ đến thời điểm hiện tại là: 29.890.000 đồng, số tiền lãi tạm tính đến ngày 25/9/2024 là 68.699.696 đồng. Nay Ngân hàng yêu cầu chị S1 phải trả nợ cho A Chi nhánh huyệnYênThế - Bắc Giang II số tiền 98.589.696 đồng trong đó tiền gốc còn lại là 29.890.000 đồng, số tiền lãi tạm tính đến ngày 25/9/2024 là 68.699.696 đồng và số lãi phát sinh cho đến khi trả hết nợ theo lãi suất quy định của A Chi nhánh huyện Y. Tại Điều 463 và khoản 1 Điều 466 Bộ luật dân sự quy định về hợp đồng vay tài sản đã ghi: “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn”. Nay đã quá hạn trả nợ mà chị S1 chưa trả hết nợ cho Ngân hàng là vi phạm nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu chị S1 phải trả số tiền trên là có căn cứ. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, buộc chị S1 phải trả cho Ngân hàng số tiền 98.589.696 đồng, trong đó tiền gốc 29.890.000 đồng, tiền lãi tạm tính đến ngày 25/9/2024 là 68.699.696 đồng, phải tiếp tục chịu lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng cho đến khi trả hết nợ.

  3. [3] Về nghĩa vụ trả nợ: Mặc dù chỉ có anh V2 đứng ra vay tiền của Ngân hàng nhưng Ngân hàng và chị S1 đều thừa nhận chị S1 vay tiền để chăn nuôi phát triển kinh tế, đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình, Ngân hàng yêu cầu cả anh V2 phải trả tiền nên buộc anh V2 phải liên đới trả nợ cùng chị S1 cho Ngân hàng là đúng quy định tại Điều 27, khoản 1 Điều 30, khoản 2 Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình.
  4. [4] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội thì yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng được chấp nhận nên chị S1 và anh V2 phải chịu án phí trên số tiền phải trả là 98.589.696 đồng x 5% = 4.934.000 đồng. Ngân hàng không phải chịu án phí, trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp cho ngân hàng.
  5. [5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án theo quy định tại Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Điều 463; khoản 1 Điều 466 Bộ luật dân sự;

Điều 91, Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Điều 27, khoản 1 Điều 30, khoản 2 Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình;

Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N (A) đối với chị Trần Thị S1. Buộc chị Trần Thị S1 và anh Nguyễn Văn V2 và phải liên đới trả cho Ngân hàng N (A) số tiền số tiền 98.589.696 đồng, trong đó tiền gốc 29.890.000 đồng, tiền lãi tạm tính đến ngày 25/9/2024 là 68.699.696 đồng.

    Kể từ ngày 26/9/2024 cho đến khi thi hành án xong, chị Trần Thị S1 và anh Nguyễn Văn V2 còn phải chịu lãi suất phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số [...]/HDTD ngày 08/5/2012 và các văn bản kèm theo hợp đồng.

  2. Về án phí:
    • - Buộc chị Trần Thị S1 và anh Nguyễn Văn V2 phải chịu 4.934.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.
    • - Trả lại Ngân hàng N (A) số tiền 2.440.000đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0005051 ngày 13/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Thế.
  3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Yên Thế;
  • - CCTHA huyện Yên Thế;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thế Đăng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 58/2024/DS-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 58/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án NH đòi tiền chị S
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger