Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LẬP THẠCH

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do- Hạnh phúc

Bản án số: 58/2024/HNGĐ- ST

Ngày 23 tháng 9 năm 2024

V/v Tranh chấp về Hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH, TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Công Sinh.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trung Thành và bà Trần Thị Kim Khuyên.
  • - Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Quốc Khánh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch tham gia phiên toà: Ông Ngô Trường Út - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 187/2023/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 12 năm 2023 về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 187/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Trần Đại O, sinh năm 1945 (có mặt).
    Địa chỉ: Thôn G, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc.
  2. Bị đơn: Bà Trần Thị C, sinh năm 1949 (vắng mặt).
    Địa chỉ: Thôn X, xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn xin ly hôn đề ngày 13/12/2023, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn ông Trần Đại O trình bày:

Ông kết hôn với bà Trần Thị C năm 1976, có được tìm hiểu tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc, (do thời gian lâu nên ông không lưu giữ được giấy đăng ký kết hôn, Ủy ban nhân dân xã Đ cũng không lưu giữ được nên không cấp cho ông trích lúc kết hôn). Sau khi kết hôn bà C về làm dâu và chung sống cùng ông tại thửa đất của bố mẹ ông để lại do bố mẹ ông đã chết. Tình cảm vợ chồng ban đầu hòa thuận hạnh phúc đến năm 1985 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bà C có quan hệ ngoại tình với người khác, nên ông bỏ đi làm công nhân và ở tại nông trường T, vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay. Đến nay ông O xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn bà Trần Thị C.

Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là Trần Thị H, sinh năm 1976; Trần Thị B, sinh năm 1979 và Trần Thị V, sinh năm 1985, hiện nay các con đã trưởng thành có gia đình riêng. Ly hôn ông O không đề nghị Tòa án giải quyết về con chung.

Về con riêng: Ông O có 02 con là Khổng Thị N, sinh năm 1980 và Trần Xuân K, sinh năm 1983. Ly hôn ông không đề nghị Tòa án giải quyết về con riêng.

Về tài sản chung: Ông và bà C có 01 thửa đất số 176, tờ bản đồ số 33, diện tích 887m² tại thôn X, xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc trên đất có 01 ngôi nhà 04 gian do bố mẹ để lại cho vợ chồng, đến năm 2023 bà C dỡ bỏ xây lại thành nhà đổ mái bê tông dạng nhà vườn. Về nguồn gốc đất là của bố mẹ ông để lại cho vợ chồng ông, năm 2009 được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà Trần Thị C. Ly hôn ông O đề nghị chia đôi thửa đất ông xin lấy phần đất không có nhà, để bà C lấy phần đất có nhà và các công trình do bà C xây dựng ở phía trong, diện tích có nhiều hơn ông cũng không yêu cầu bà C thanh toán chênh lệch tài sản cho ông. Các tài sản trên đất ông không yêu cầu gì, chỉ để nghị chia đất.

Về tài sản riêng, công nợ, công sức đóng góp: Ông O không đề nghị Tòa án giải quyết.

Bị đơn bà Trần Thị C: Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng bà C không đến Tòa án làm việc nên không tiến hành hòa giải được. Tại biên bản lấy lời khai ngày 22/3/2024 bà C trình bày: Bà kết hôn với ông Trần Đại O năm 1975 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc. Sau khi kết hôn bà về làm dâu và chung sống cùng ông O tại gia đình ông. Tình cảm vợ chồng ban đầu hòa thuận đến năm 1980 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông O đi công nhân có quan hệ với người khác, vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay thỉnh thoảng ông O mới về nhà. Đến nay ông O xin ly hôn bà cũng xác định tình cảm vợ chồng không còn nhưng không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là Trần Thị H, sinh năm 1976; Trần Thị B, sinh năm 1979 và Trần Thị V, sinh năm 1985 hiện nay các con đã trưởng thành có gia đình riêng. Ly hôn bà C không đề nghị Tòa án giải quyết về con chung.

Về tài sản chung: Bà và ông O có tài sản chung là thửa đất số 176, tờ bản đồ số 33, diện tích 887m² tại thôn X, xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc trên đất có 01 ngôi nhà do bà C xây năm 2023. Về nguồn gốc đất là của bố mẹ ông O cho vợ chồng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà Trần Thị C, cấp năm nào bà không nhớ, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà gửi cất hộ nên không có để nộp bản sao cho Tòa án. Ly hôn ông O đề nghị chia đôi thửa đất bà không đồng ý. Bà C thừa nhận thửa đất là của vợ chồng nhưng bà không ly hôn nên không đồng ý chia đất theo đề nghị của ông O.

Về tài sản riêng, công nợ, công sức đóng góp: Bà C không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch phát biểu quan điểm về tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tiến hành theo đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn chấp hành đúng về quyền và nghĩa vụ. Bị đơn không chấp hành đúng về quyền và nghĩa vụ. Về nội dung vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông O. Về con chung: Các con đã thành niên nên không giải quyết. Về tài sản chung: Chấp nhận yêu cầu của ông O, trích công sức duy trì bảo quản tài sản cho bà C, chia cho ông O diện tích đất không có nhà, chia cho bà C diện tích có nhà. Về tài sản riêng, công nợ, công sức đóng góp: Bà C, ông O không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Về án phí ông O, bà C là người cao tuổi nên đề nghị miễn án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Ông Trần Đại O khởi kiện yêu cầu xin ly hôn đối với bà Trần Thị C, bị đơn có hộ khẩu thường trú tại xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc. Đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  2. [2] Về pháp luật áp dụng để giải quyết vụ án: Ngày 13/12/2023 ông Trần Đại O có đơn xin ly hôn bà Trần Thị C. Vì vậy pháp luật áp dụng để giải quyết vụ án là Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
  3. [3] Về tố tụng: Bị đơn bà Trần Thị C vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  4. [4] Về nội dung vụ án: Cuộc hôn nhân giữa ông Trần Đại O và bà Trần Thị C là tự nguyện, mặc dù các đương sự không xuất trình được giấy đăng ký kết hôn, Ủy ban nhân dân xã Đ cũng không còn lưu trữ được sổ đăng ký kết hôn, nhưng các đương sự đều thừa nhận có đăng ký kết hôn như vậy đây là cuộc hôn nhân hợp pháp, tiến bộ.

Về tình cảm: Sau khi kết hôn ông O, bà C có thời gian hòa thuận, hạnh phúc. Quá trình vợ chồng chung sống đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không tin tưởng nhau, ông O đi làm công nhân không thường xuyên ở nhà, ông O cho rằng bà C ngoại tình, bà C cũng cho rằng ông O ngoại tình từ đó dẫn đến vợ chồng quan tâm đến nhau, từ năm 1985 đến nay ông O không chung sống cùng bà C tại xã Đ, chỉ thỉnh thoảng về quê dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt. Như vậy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được do đó ông O xin ly hôn là có căn cứ, bà C cũng xác định tình cảm vợ chồng không còn nhưng không ly hôn chỉ là gây khó khăn cho ông O. Vì vậy cần áp dụng Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình cho ông Trần Đại O được ly hôn bà Trần Thị C.

Về con chung: Các con đã trưởng thành lao động tự túc được và có gia đình riêng ông O và bà C không đề nghị Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về con riêng của ông O không đề nghị Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung: Xét đề nghị của ông O Hội đồng xét xử thấy rằng sau khi kết hôn bà C và ông O ở trên thửa đất do bố mẹ ông O để lại do bố mẹ mất sớm, ông O, bà C chung sống hòa thuận từ năm 1975 đến năm 1985 ông O và bà C mới sống ly thân. Xác minh tại địa phương thể hiện thửa đất là của bố mẹ ông O để lại cho vợ chồng ông O, năm 2009 bà C được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 176, tờ bản đồ số 33 diện tích 887m² trong đó 300m² đất ở, 587m² đất trồng cây lâu năm. Kết quả đo đạc do Công ty Cổ phần T1 bản đồ CDP đo ngày 27/3/2024 diện tích 815,2m² diện tích này giảm so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp lần đầu các đương sự đều thừa nhận do sai số đo đạc, thực tế thửa đất sử dụng ổn định không có tranh chấp với các hộ liền kề. Về nguyên tắc tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, tuy nhiên bà C là người ở trên thửa đất đó từ năm 1976 đến nay là người có công duy trì, tôn tạo và bảo quản tài sản, từ năm 1985 ông O không còn ở chung cùng bà C trên thửa đất đó, ông O cũng có lỗi trong vi phạm nghĩa vụ vợ chồng mới dẫn đến ly hôn, do vậy cần chia cho bà C phần nhiều hơn so với ông O, hiện nay bà C đã làm nhà ở phần đất phía trong nên phải giao cho bà C phần đất bà đã làm nhà, giao cho ông O phần đất phía trước không có công trình gì, Hội đồng xét xử xem chia cho ông O thửa đất có chiều dài 14m, chiều sâu 19,26 m tiếp giáp phần sân gạch của bà C đang sử dụng, trong đó 100m² đất ở còn lại là đất trồng cây lâu năm, tổng diện tích được chia 269,1m². Phần còn lại chia cho bà C sử dụng. Mặc dù bà C được chia diện tích đất nhiều hơn nhưng bà C là người có công duy trì tôn tạo thửa đất, mặt khác phần đất về phía trong không có giá trị như phần đất chia cho ông O ở phía ngoài giáp đường đi đất có giá trị hơn. Do vậy không buộc bà C phải thanh toán chênh lệch giá trị đất cho ông O. Tại phiên tòa ông O cũng không yêu cầu bà C phải thanh toán chênh lệch tài sản cho ông.

Ông O được chia phần đất có các chiều như sau: Cạnh 3-4 dài 19,26m; cạnh 4- 4A dài 14m, cạnh 4A-4B dài 19,26m; cạnh 4B- 2 dài 12,29m; cạnh 2-3 dài 1,71m, tổng diện tích 269,1m² trong đó 100m² đất ở và 169,1m² đất trồng cây lâu năm ( có sơ đồ kèm theo).

Bà C được chia phần đất còn lại của thửa đất có nhà và các công trình, cây cối mà bà C đang sử dụng có các chiều cụ thể như sau: Cạnh 4A-5 dài 5,39m; cạnh 5-6 dài 2,71m; cạnh 6-7 dài 11,53m; cạnh 7-8 12,79m, cạnh 8-9 dài 4,59m; cạnh 9-10 dài 6,65m; 10-11 dài 3,68m; cạnh 11-1 dài 19,29m; cạnh 1- 2 dài 16,71m; cạnh 2-4B dài 12,29m; cạnh 4B-4A dài 19,26m, tổng diện tích 546,1m² trong đó 200m² đất ở và 346m² đất trồng cây lâu năm ( có sơ đồ kèm theo).

Ông O và bà C được sở hữu các tài sản trên phần đất được chia, không ai phải thanh toán chênh lệch tài sản cho nhau.

Về tài sản riêng, công nợ, công sức: Ông O, bà C không đề nghị giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

  1. [5] Về án phí: Ông O và bà C đều là người cao tuổi tuổi theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về án phí lệ phí Tòa án thì ông O, bà C được miễn toàn bộ tiền án phí.
  2. [6] Về chi phí tố tụng ông O tự nguyện chịu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  3. [7] Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa về việc giải quyết vụ án là có căn cứ, được xem xét khi quyết định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, 57, 58, 59, 62 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26 luật Thi hành án dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Về hôn nhân: Cho ông Trần Đại O được ly hôn bà Trần Thị C.
  2. Về tài sản: Chia cho ông Trần Đại O phần đất của thửa số 176, tờ bản đồ số 33 địa chỉ thửa đất thôn X, xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc có các chiều như sau: Cạnh 3-4 dài 19,26m; cạnh 4= 4A dài 14m, cạnh 4A-4B dài 19,26m; cạnh 4B- 2 dài 12,29m; cạnh 2-3 dài 1,71m, tổng diện tích 269,1m² trong đó 100m² đất ở và 169,1m² đất trồng cây lâu năm (có sơ đồ kèm theo).

Chia cho bà Trần Thị C phần đất còn lại của thửa đất số 176, tờ bản đồ số 33 địa chỉ thửa đất thôn X, xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc có nhà và các công trình, cây cối mà bà C đang sử dụng có các chiều cụ thể như sau: Cạnh 4A-5 dài 5,39m; cạnh 5-6 dài 2,71m; cạnh 6-7 dài 11,53m; cạnh 7-8 12,79m, cạnh 8-9 dài 4,59m; cạnh 9-10 dài 6,65m; 10-11 dài 3,68m; cạnh 11-1 dài 19,29m; cạnh 1- 2 dài 16,71m; cạnh 2-4B dài 12,29m; cạnh 4B-4A dài 19,26m, tổng diện tích 546,1m² trong đó 200m² đất ở và 346m² đất trồng cây lâu năm ( có sơ đồ kèm theo).

Ông O và bà C được sở hữu các tài sản trên phần đất được chia, không ai phải thanh toán chênh lệch tài sản cho nhau.

Các đương sự được liên hệ với cơ quan có thẩm quyền kê khai đăng ký để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai.

  1. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí cho ông Trần Đại O và bà Trần Thị C.
  2. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ông O có mặt có quyền kháng cáo bản án. Bà C vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lập Thạch;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - UBND xã Đ (để vào sổ hộ tịch);
  • - Lưu hồ sơ, Văn phòng.

TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Công Sinh

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 58/2024/HNGĐ- ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH, TỈNH VĨNH PHÚC về tranh chấp về hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 58/2024/HNGĐ- ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về Hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH, TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Oanh Chương tranh chấp hôn nhân gia đình
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger