Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NHO QUAN

TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58 /2024/HNGĐ-ST

Ngày: 18/9/2024

V/v: Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHO QUAN, TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Thị Thanh Nhàn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Quang Văn

Ông Nguyễn Văn Phiếu

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bình - Thư ký Toà án nhân dân huyện Nho Quan

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Nho Quan tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hòa– Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 131/2024/TLST-HNGĐ ngày 30/5/2024;về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 8 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 34/2024/QĐST-DS ngày 06 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Mai Thị H sinh năm 1976; Địa chỉ: Thôn C, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Bình ( Có đơn xin xét xử vắng mặt)

Bị đơn: Anh Nguyễn Xuân T sinh năm 1974; địa chỉ: Thôn C, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Bình ( Vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, Nguyên đơn chị Mai Thị H trình bày.

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh T được tự do tìm hiểu và tự nguyện đi đăng ký kết hôn năm 1996 tại UBND xã P, huyện N, tỉnh Ninh Bình Sau khi kết hôn vợ chồng chị chung sống hòa thuận hạnh phúc khoảng thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống không thống nhất trong cách nuôi dạy con. Thường xuyên đánh chửi nhau Trong thời gian sinh sống hai vợ chồng chị mâu thuẫn càng trầm trọng khiến không khí gia đình căng thẳng. Kể từ năm 2019 vợ chồng anh chị sống ly thân và chị đã đi làm ăn xa cho đến nay. Xét thấy nay mâu thuẫn đã căng thẳng, trầm trọng không còn ai quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa. Nên chị làm đơn này đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Xuân T.

Về con chung: Vợ chồng chị H có 03 con chung: là các cháu Nguyễn Văn G sinh ngày 25/5/1998; cháu Nguyễn Thu D sinh ngày 20/11/2002 và cháu Nguyễn Khánh L sinh ngày 21/3/2006 Hiện nay cả 03 cháu đã đủ 18 tuổi nên tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

+ Về tài sản chung, công nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại đơn xin xử vắng mặt chị Mai Thị H vẫn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn T1 vì tình cảm anh chị không còn. Về con chung có 03 con chung là các cháu Nguyễn Văn G sinh ngày 25/5/1998; cháu Nguyễn Thu D sinh ngày 20/11/2002 và cháu Nguyễn Khánh L sinh ngày 21/3/2006 Hiện nay cả 03 cháu đã đủ 18 tuổi nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết, về tài sản chung và công nợ chung chị không đề nghị tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai, các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ bị đơn anh Nguyễn Xuân T trình bày:

Như chị H trình bày thời gian địa điểm đăng ký kết hôn là đúng. Nguyên nhân mâu thuẫn là do chị H đi làm ăn kinh tế xa không có liên lạc gì với anh T, chị H chỉ liên lạc với các con và chỉ H vẫn có trách nhiệm nuôi cháu D ăn học nhưng thực tế anh T và chị H không có liên hệ gì với nhau và không còn tồn tại quan hệ vợ chồng chỉ tồn tại trên danh nghĩa nay chị H làm đơn xin ly hôn anh T vì muốn cho các con có một gia đình hoàn thiện nên anh T không đồng ý ly hôn.

+ Về con chung: Anh T, chị H có 03 con chung: là các cháu Nguyễn Văn G sinh ngày 25/5/1998; cháu Nguyễn Thu D sinh ngày 20/11/2002 và cháu Nguyễn Khánh L sinh ngày 21/3/2006 Hiện nay cả 03 cháu đã đủ 18 tuổi nên anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

+ Về tài sản chung, công nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, anh T không có yêu cầu phản tố hay đề nghị gì khác.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Nho Quan tham gia tố tụng tại phiên tòa giải quyết vụ án sơ thẩm phát biểu ý kiến:

Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử:

- Căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 147, khoản 1 Điều 227, Khoản 1 Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và xử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

- Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Mai Thị H về việc “Ly hôn” đối với anh Nguyễn Xuân T.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Mai Thị H với anh Nguyễn Xuân T. Quan hệ hôn nhân của chị Mai Thị H và anh Nguyễn Xuân T chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung, công nợ chung và tài sản chung: không có, Không xem xét giải quyết.

3. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Mai Thị H phải nộp toàn bộ án phí ly hôn là 300.000 đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên Hội đồng xét xử nhận định các vấn đề phải giải quyết trong vụ án như sau:

[1].Về áp dụng pháp luật tố tụng:

Quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là quan hệ ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn; Tòa án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo khoản 1 Điều 28, Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Mai Thị H có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải. Theo khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án không tiến hành hòa giải là có căn cứ.

Ngày 19/8/2024 là nguyên đơn chị Mai Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt. Theo quy định Điều 227; Khoản 1, Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị H.

Anh Nguyễn Xuân T là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Vì vậy tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh T theo quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự

[2].Về áp dụng pháp luật nội dung:

[2.1].Về quan hệ hôn nhân: chị Mai Thị H và anh Nguyễn Xuân T được tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn vào ngày 02/02/1996 tại UBND xã P, huyện N, tỉnh Ninh Bình trên cơ sở tự nguyện đây là cuộc hôn nhân hợp pháp cần được pháp luật bảo vệ. Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 12 ngày 02/02/1996. Đây là hôn nhân hợp pháp theo Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình.

Sau khi kết hôn vợ chồng chị H và anh T chung sống hòa thuận hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân chính là vợ chồng bất hòa và anh chị không có tiếng nói chung. Trong thời gian sinh sống hai vợ chồng anh chị mâu thuẫn càng trầm trọng khiến không khí gia đình căng thẳng. Năm 2019 chị H đã sống ly thân và chị đã đi làm ăn xa cho đến nay mâu thuẫn đã căng thẳng, trầm trọng không còn ai quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa nên chị H đề nghị xin ly hôn anh T. hai vợ chồng chị H và anh T không chung sống với nhau. Anh T thì ở nhà ở thôn C, xã P, huyện N cho đến nay. Còn chị H thì đi làm ăn xa khi về thì chị không ở cùng với anh T và về nhà con để ở. Quá trình giải quyết anh T có xác nhận vợ chồng anh trên thực tế anh và chị H không có liên hệ gì với nhau và không còn tồn tại quan hệ vợ chồng mà chỉ tồn tại trên danh nghĩa nay chị H làm đơn xin ly hôn anh T vì muốn cho các con có một gia đình hoàn thiện nên anh T không đồng ý ly hôn. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh T đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng sống ly thân cho đến nay, không ai quan tâm đến cuộc sống của nhau; Chính quyền địa phương nơi cư trú của chị H và anh T cũng xác nhận có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện N, anh T và chị H sinh sống tại thôn C, xã P, huyện N có xảy ra mâu thuẫn cãi chửi nhau tuy nhiên nguyên nhân vợ chồng cãi chửi nhau về việc gì thì chính quyền địa phương không nắm rõ và không biết và không có báo cáo với chính quyền địa phương. Tuy nhiên đến nay chị H đã không ở nhà mình ở thôn C, xã P, huyện N cùng với anh T mà đã chuyển đến ở tại Phố P, thị trấn N, huyện N cùng con. Do vậy Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ chấp nhận đơn khởi kiện của chị H, xử cho chị Mai Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Xuân T là phù hợp Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[2.2].Về con chung, tài sản chung, công nợ chung: Chị H và anh T không yêu cầu do vậy Hội đồng xét xử không xem xét

[2.3].Về án phí:

- Án phí ly hôn: chị Mai Thị H chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[2.4] Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 147, khoản 1 Điều 227, Khoản 1 Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và xử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử cho chị Mai Thị H được ly hôn đối với anh Nguyễn Xuân T. Quan hệ hôn nhân của chị Mai Thị H và anh Nguyễn Xuân T chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Chị Mai Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Được trừ vào số tiền 300.000đ đã tạm ứng án phí tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001272 ngày 30/5/2024.

Án xử công khai sơ thẩm chị H và anh T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
Lâm Thị Thanh Nhàn

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND H. NQ;
  • - Chi cục THA H. NQ;
  • - UBND thị trấn NQ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
Lâm Thị Thanh Nhàn
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 58 /2024/HNGĐ-ST ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHO QUAN, TỈNH NINH BÌNH về ly hôn

  • Số bản án: 58 /2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHO QUAN, TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng mục đích hôn nhân không đạt được
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger