Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÀM TÂN

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 58/2024/HS-ST

Ngày: 16/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Trang;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Huân và ông Nguyễn Mạnh Quân;

Thư ký phiên tòa: Bà Phan Ngọc Trà My - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân;

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Quý - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 48/2024/TLST-HS ngày 22/8/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2024/QĐXXST-HS ngày 30/8/2024, đối với bị cáo:

NGUYỄN THỊ HỒNG L, (Tên gọi khác: Không), sinh năm 2000 tại NT;

HKTT: thôn H, T, H, tỉnh BT;

Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 3/12; Dân tộc: Kinh;

Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Thiên Chúa; Quốc tịch: Việt Nam;

Con ông: Nguyễn Thanh H (Chết) và bà Dương Thị T;

Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con lớn nhất;

Chồng: Trần Lê T1; Có 03 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2021;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo hiện đang tại ngoại và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Trần Thị Ngọc T2, sinh năm 1981 (Có mặt)

HKTT: 229/25 TLV, phường MH, Quận T, Tp.H.

Chỗ ở: thôn HT, xã TT, huyện HT, tỉnh BT

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào tối ngày 26/02/2024, Nguyễn Thị Hồng L có tham gia ăn uống tại nhà của bà Trần Thị Ngọc T3 thuộc thôn H, xã T, huyện H, tỉnh BT. Đến khoảng 22h40' cùng ngày, giữa L và bị hại Trần Thị Ngọc T2 xảy ra mâu thuẫn với nhau. Bà T2 có tát bị cáo 02 cái và được mọi người can ngăn. Do bực tức nên bị cáo L về nhà của mình (sát bên nhà bà T3) ra sau bếp lấy 01 con dao chiều dài khoảng 30cm, bản rộng khoảng 3.5cm, cán bằng gỗ, lưỡi dao bằng kim loại rồi cầm qua trước cửa nhà của bà T2 chém một nhát vào vùng má phải và một nhát vào vùng vai phải gây thương tích cho bà T2. Sau đó mọi người can ngăn và đưa bà T2 đi cấp cứu.

Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 345/KLTTCT-TTGĐYKPYBT ngày 09/4/2024 của Trung tâm Giám định Y Khoa Pháp y tỉnh B thể hiện thương tích của bà Trần Thị Ngọc T2 như sau:

  • Vết thương phần mềm vùng má phải đã được điều trị hiện để lại sẹo kích thước (6×0.1)cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 6%.
  • Vết thương phần mềm vùng vai hố thượng đòn phải đã được điều trị hiện để lại sẹo kích thước (1.5×0.3)cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 1%.
  • Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của bà Trần Thị Ngọc T2 tại thời điểm giám định là 7%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
  • Các vết thương do vật sắc gây ra
  • Vết thương vùng má phải có chiều hướng lực tác động từ phải sang trái; Vết thương vùng vai hố thượng đòn phải có chiều hướng lực tác động từ trên xuống dưới.

Phần dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 15.000.000đ, hiện bị cáo chưa bồi thường.

Vật chứng của vụ án: 01 con dao có chiều dài khoảng 30cm, bản rộng khoảng 3.5cm, cán bằng gỗ, lưỡi dao bằng kim loại. Sau khi chém bà T2, bị cáo đã vứt bỏ. Công an xã T đã tiến hành truy tìm nhưng không có kết quả.

Với nội dung như trên, Cáo trạng số 49/CT-VKS ngày 21/8/2024 của VKSND huyện Hàm Tân đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Hồng L về tội “Cố ý gây thương tích" theo điểm a khoản 1 Điều 134 BLHS.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng của VKSND huyện Hàm Tân đã truy tố và thống nhất với các điều khoản mà VKSND huyện Hàm Tân đã viện dẫn trong Cáo trạng.

Đại diện VKSND huyện Hàm Tân giữ quyền công tố luận tội và tranh luận đã phân tích hành vi phạm tội của bị cáo. Đề nghị HĐXX tuyên bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích” như nội dung Cáo trạng, đồng thời xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ khi quyết định mức hình phạt đối với bị cáo. Đề nghị HĐXX áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Hồng L từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định. Về dân sự: Đề nghị HĐXX tuyên buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại số tiền 15.000.000đ.

* Ý kiến của bị cáo: Bị cáo đồng ý với nội dung và tội danh mà Cáo trạng của VKSND huyện Hàm Tân đã truy tố, đồng thời xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến, hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị hại vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi tố đối với bị cáo nên HĐXX tiếp tục xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[3] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai và các tài liệu chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra vụ án, đã có đủ cơ sở xác định:

Ngày 26/02/2024, trong lúc ăn uống tại nhà của bà T3, giữa bị cáo và bà T2 có mâu thuẫn với nhau. Bà T2 tát bị cáo hai cái, vì bực tức, bị cáo đã dùng dao chém một nhát vào vùng má phải và một nhát vào vùng vai hố thượng đòn phải gây thương tích cho bà T2. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây ra cho bà T2 là 7%. Ngày 15/4/2024, bà T2 có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với bị cáo.

Tại các biên bản ghi lời khai của bị cáo, bị hại; biên bản hỏi cung; lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều thống nhất hành vi của bị cáo đúng như cáo trạng đã nêu.

Bị cáo đã có hành vi dùng dao là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho bị hại với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 7%, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến khách thể được Luật Hình sự bảo vệ là sức khỏe của công dân. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức hành vi dùng hung khí nguy hiểm gây thương tích cho người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích" quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Do đó, VKSND huyện Hàm Tân truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Về tình tiết tăng nặng: Không có.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi thực hiện hành vi phạm tội cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Được bị hại làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại đến sức khỏe người khác được pháp luật bảo vệ. Hành vi trên không những vi phạm pháp luật mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an ninh tại địa phương, vì vậy, Hội đồng xét xử cần xử lý nghiêm để góp phần răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.

Trong lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét đến tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo để lượng hình cho phù hợp. Xét thấy: Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Có nhân thân tốt; Có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng; Quá trình điều tra vụ án, bị cáo được xem xét cho tại ngoại, và trong thời gian được tại ngoại bị cáo không có vi phạm gì, điều này chứng tỏ bị cáo có khả năng tự cải tạo tốt, và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Gia đình bị cáo khó khăn, hiện bị cáo là lao động chính trong gia đình có ba con nhỏ, chồng bị bệnh thận. Tại phiên tòa bị hại tha thiết xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử nghĩ nên chiếu cố, khoan hồng về phần hình phạt đối với bị cáo, áp dụng quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt tù nhưng cho hưởng án treo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo thường trú giám sát và giáo dục, để bị cáo có điều kiện lao động, cải tạo ổn định cuộc sống, đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bồi thường số tiền 15.000.000₫ bao gồm tiền điều trị có hóa đơn là 280.000đ; Tiền xe đi giám định 01 lần từ TT đến PT, tiền xe đi chữa trị từ TT đến Bệnh viện thị xã L là 1.500.000đ; Tiền mua thuốc sát trùng, băng gạc 220.000đ; Tiền tổn thất tinh thần là 13.000.000đ. Bị cáo đồng ý bồi thường các khoản trên cho bị hại. Đây là sự tự nguyện thỏa thuận giữa các bên, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội nên HĐXX ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận nêu trên.

[8] Về vật chứng vụ án: Sau khi gây thương tích cho bà T2, bị cáo đã vứt bỏ con dao, Công an xã T đã tổ chức truy tìm nhưng không có kết quả nên HĐXX không xem xét.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Hồng L phạm tội “Cố ý gây thương tích".
  2. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Hồng L 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án (ngày 16/9/2024).

    Giao bị cáo Nguyễn Thị Hồng L cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh BT giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trường hợp người bị phạt tù được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  3. Trách nhiệm dân sự: Áp dụng: Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 357, 468, 584, 585, 590 Bộ luật Dân sự
  4. Buộc bị cáo phải bồi thường cho bà Trần Thị Ngọc T2 số tiền 15.000.000₫ (Mười lăm triệu đồng)

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a, điểm c khoản 1 Điều 23; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  6. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 750.000đ án phí dân sự sơ thẩm.

  7. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai, báo cho bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

* Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND huyện Hàm Tân;
  • - CA huyện Hàm Tân;
  • - CQTHAHS Công an tỉnh Bình Thuận;
  • - NTG CA huyện Hàm Tân;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Chi cục THADS Hàm Tân;
  • - UBND địa phương bị cáo cư trú;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thùy Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 58/2024/HS-ST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN TỈNH BÌNH THUẬN về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 58/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Hồng L bị xét xử về tội Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger