|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 58/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 16 - 9 - 2024
V/v tranh chấp Hôn nhân gia đình
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG -TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Duyên
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Văn Võ
Ông Nguyễn Đức Cường
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Minh Thắng - Thư ký TAND huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 88/2024/TLST – HNGĐ, ngày 24 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2024/QĐXX-ST, ngày 19 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 34/2024/TB-TA, ngày 30 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lâm Thị T, sinh năm 1981; Vắng mặt
Địa chỉ: Khu A, xã N, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.
Bị đơn: Anh Sầm Văn Q, sinh năm 1979; Vắng mặt
Địa chỉ: Khu A, xã N, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và nội dung tự khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Lâm Thị T trình bày:
Chị và anh Sầm Văn Q kết hôn với nhau vào ngày 17/8/2012 được đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ, trên cơ sở hai bên hoàn toàn tự nguyện. Sau kết hôn vợ chồng sinh sống tại xã N, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Trong quá trình vợ chồng chung sống đã nảy sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng sống không hợp nhau. Đến năm 2023 thì mâu thuẫn ngày càng trở nên trầm trọng, vợ chồng không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa nên từ cuối năm 2023 đã sống ly thân và không còn quan tâm đến nhau nữa. Chị xác định vợ chồng không còn tình cảm với nhau nữa, không thể hàn gắn lại được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Sầm Văn Q.
Về con chung: Chị và anh Q có 01 con chung là Sầm Phương V, sinh ngày 03/6/2012. Hiện nay, cháu đang ở cùng với chị. Sau khi ly hôn, chị có nguyện vọng tiếp tục được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu V và tự nguyện không yêu cầu anh Q phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng chị.
Về tài sản chung, vay nợ chung, công sức đóng góp: Chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Sầm Văn Q nhưng anh Q đều vắng mặt không có lý do. Tòa án đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ tại xã N nơi anh Q cư trú và làm việc với ông Sầm Xuân D là bố đẻ của anh Q. Kết quả xác minh và làm việc phù hợp với lời khai của chị Lâm Thị T về quan hệ hôn nhân, quá trình chung sống, mâu thuẫn vợ chồng và con chung. Ông Sầm Xuân D cho biết gia đình đã nhận thay anh Q các văn bản tố tụng do Tòa án tống đạt. Sau khi nhận được các văn bản, gia đình đã liên lạc, thông báo ngay cho anh Q được biết nội dung. Anh Q có thể hiện ý kiến là do công việc làm ăn xa nên anh Q không về Tòa án làm việc được, chị T xin ly hôn thì tự giải quyết.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn là chị T đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn là anh Q không thực hiện quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238 và khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Lâm Thị T được ly hôn anh Sầm Văn Q.
Về con chung: Giao cho chị Lâm Thị T được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Sầm Phương V, sinh ngày 03/6/2012, anh Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị T không yêu cầu.
Về tài sản chung, công nợ chung, công sức đóng góp không xem xét giải quyết trong vụ án này.
Về án phí chị T phải chịu 300.000.đ tiền án phí dân sự ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn là chị Lâm Thị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn đối với bị đơn là anh Sầm Văn Q, nơi cư trú tại xã N, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Do vậy, xác định vụ án có quan hệ tranh chấp về Hôn nhân và gia đình, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn là chị Lâm Thị T vắng mặt nhưng đã đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt còn anh Q vẫn vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Do vậy, Toà án đã Quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt các bên đương sự là hoàn toàn phù hợp quy định tại điểm a,b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lâm Thị T và anh Sầm Văn Q được UBND xã N, huyện Đ đăng ký kết hôn vào ngày 17/8/2012 trên cơ sở tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật và được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đăng ký kết hôn đây là hôn nhân hợp pháp. Tuy nhiên, trong quá trình vợ chồng chung sống đã xảy ra nhiều mâu thuẫn không thể giải quyết được nên từ nhiều tháng nay chị T và anh Q đã sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau. Kết quả xác minh và lời khai của nguyên đơn cho thấy quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh Q đã xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, kéo dài. Nếu cứ tiếp tục cũng không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, chị T đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Q là có căn cứ phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, cần được chấp nhận.
[3]. Về nuôi con chung: Chị Lâm Thị T và anh Sầm Văn Q có 01 con chung là cháu Sầm Phương V, sinh ngày 03/6/2012, hiện đang ở cùng với chị T. Sau khi ly hôn, chị T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, cháu V cũng thể hiện nguyện vọng được ở với mẹ. Để đảm bảo cho con chung có cuộc sống ổn định và đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con chung nên giao cháu V cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp. Anh Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung vì chị T không yêu cầu.
[4]. Về tài sản chung, vay nợ chung và các vấn đề khác chị T không yêu cầu và anh Q cũng vắng mặt nên không xem xét giải quyết trong vụ án này.
[5]. Về án phí: Chị T là nguyên đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238 và khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Lâm Thị T được ly hôn anh Sầm Văn Q.
- Về con chung: Giao cho chị Lâm Thị T được trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc cháu Sầm Phương V, sinh ngày 03/6/2012, kể từ khi ly hôn cho đến khi con chung thành niên. Anh Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, anh Q không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung, công nợ chung, công sức đóng góp không xem xét giải quyết trong vụ án này.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lâm Thị T phải nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000.₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số: 0002242, ngày 24/6/2024, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ. Xác nhận chị T đã nộp đủ án phí.
Báo cho các đương sự (vắng mặt) tại phiên toà biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết bản án, để đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử theo trình tự phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đã ký Bùi Thị Duyên |
Bản án số 58/2024/HNGĐ-ST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân gia đình
- Số bản án: 58/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp Hôn nhân gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
