Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỨC LINH

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2024/HS-ST

Ngày: 13/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Xuân Thuận.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Mai Thương

Ông Nguyễn Văn Thiện;

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Vân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Đinh Công Quảng - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 9 năm 2024 tại: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 58/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 8 năm 2024 đối với :

-Bị cáo: Nguyễn Hữu H, sinh năm: 2001; Tại: tỉnh Bình Thuận; giới tính: Nam; Nơi cư trú: số D, đường số D, tổ E, thôn H, xã M, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 8/12; Cha: Nguyễn D, sinh năm: 1969; mẹ: Lê Thị Ngọc M, sinh năm: 1975 (đã chết); cùng trú tại thôn H, xã M, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận; gia đình bị cáo có hai chị em; Nguyễn Hữu H là thứ hai trong gia đình. Bị cáo chưa có vợ.

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 10/4/2024, Công an xã M, huyện Đ tuần tra trên địa bàn xã. Khi đến khu vực trường P thuộc thôn D, xã M, huyện Đ thì phát hiện và bắt giữ đối tượng Nguyễn Hữu H, sinh năm 2001 trú thôn D, xã M, huyện Đ, thu giữ trên người Nguyễn Hữu H 01 bịch ni lon được hàn kín 02 đầu, bên ngoài được bọc bằng keo màu đen kích thước (03 x 01)cm nghi là ma túy. Qua làm việc Nguyễn Hữu H khai nhận bịch ni lon trên là ma túy đá Nguyễn H1 vừa mua ở thị trấn V, huyện Đ về để sử dụng. Công an xã M, huyện Đ lập biên bản sự việc, thu giữ, niêm phong vật chứng và đưa Nguyễn Hữu H về trụ sở làm việc

Quá trình điều tra Nguyễn Hữu H khai nhận:

Ngày 10/4/2024 Nguyễn Hữu H điều khiển xe mô tô hiệu AirBlade biển số 86B8 – 06795 đi từ xã M đến thị trấn V, huyện Đ mua ma túy về sử dụng. Khi đến khu vực đường vào nhà Bác sỹ L thuộc khu phố G, thị trấn V, huyện Đ, Nguyễn Hữu H gặp 01 người thanh niên tên H2 (không rõ họ, địa chỉ cụ thể) đứng bên đường, người tên H2 trước đây đã bán ma túy cho H nên H dừng xe hỏi người tên H2 có bán ma túy không bán cho H 200.000 đồng. Người tên H2 nói có và lấy 01 bịch ni lon có quấn băng keo màu đen đưa cho H, H đưa cho người tên H2 200.000 đồng. Sau đó H chạy xe về lại Mê Pu trên đường về khi gần đến khu vực trường Trung học phổ thông P thuộc thôn D, xã M, huyện Đ thì bị lực lượng công an xã M dừng xe kiểm tra và thu giữ trong người Hưng 01 bịch ma túy như nói trên

Tang vật thu giữ:

01 (một) bịch ni lon được hàn kín 02 đầu, bên ngoài được bọc băng keo màu đen kích thước (03 x 01)cm ký hiệu (M);

Ngày 19/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ ra Quyết định trưng cầu giám định số 327/QĐ - CSĐT2 trưng cầu phòng K Công an tỉnh B giám định chất trong bịch ni lon thu giữ trên.

Tại Kết luận Giám định số 444/KL - KTHS ngày 25/4/2024 của Phòng K - Công an tỉnh B kết luận:

Mẫu M (bịch ni lon hàn kín bên ngoài dán băng keo màu đen kích thước: (03 x 01) cm thu giữ trên người Nguyễn Hữu H) gởi giám định có khối lượng 0,1769 gam là Methamphetamine.

H3 lại đối tượng giám định;

01 (một) gói ni lon được hàn kín bên ngoài có dán băng keo màu đen cùng 0,1601 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 444, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B

Về nguồn gốc số ma túy Nguyễn Hữu H khai mua của người có tên H2 không rõ họ, địa chỉ cụ thể ở thị trấn V, huyện Đ; Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã tiến hành xác minh, nhưng không xác định được, nên chưa có căn cứ kết luận. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ tiếp tục điều tra, xác minh xử lý sau.

Vật chứng thu giữ:

  • - 01 xe mô tô biển số 86B8 – 06795 là của bà Bùi Thị Kim C, sinh năm 1968 (người cho Nguyễn Hữu H mượn xe) trú thôn H, xã M, huyện Đ. Bùi Thị Kim C không liên quan đến việc để Nguyễn Hữu H sử dụng xe đi mua ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Đ đã trả lại cho bà Bùi Thị Kim C
  • - 01 (một) gói ni lon được hàn kín bên ngoài có dán băng keo màu đen cùng 0,1601 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 444, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B

Tại cáo trạng số 56/CT-VKSĐL-HS ngày 12/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh truy tố Nguyễn Hữu H ra trước Tòa án nhân dân huyện Đức Linh để xét xử về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh giữ nguyên cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c, khoản 1, Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù.

Đồng thời đề nghị tịch thu tiêu hủy các vật chứng đang thu giữ gồm:

  • - 01 (một) gói ni lon được hàn kín bên ngoài có dán băng keo màu đen cùng 0,1601 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 444, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B

Bị cáo Nguyễn Hữu H thừa nhận hành vi phạm tội của mình và trình bày lời sau cùng như sau: Bị cáo thấy ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội: Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với bản kết luận điều tra của Cơ quan cảnh sát điều tra, kết luận giám định, bản cáo trạng của Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

    Khoảng 23 giờ 40 phút ngày 10/4/2024, tại khu vực trường Trung học phổ thông P thuộc thôn D, xã M, huyện Đ, Công an xã M, huyện Đ bắt quả tang Nguyễn Hữu H đang tàng trữ trái phép 0,1769 gam là Methamphetamine.

    Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Hưu H4 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi năm 2017. Tại Cáo trạng số 56/CT-VKSĐL-HS ngày 12/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh đã truy tố Nguyễn Hữu H với tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội.

  2. [2] Về tính chất, mức độ nguy hiểm đối với hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo:

    Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, góp phần làm xấu hơn tình hình tội phạm về ma túy đang diễn biến phức tạp trên địa bàn huyện Đ. Bị cáo là người có đủ năng lực để chịu trách nhiệm hình sự, đủ nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vẫn cố tình vi phạm, qua đó thể hiện thái độ xem thường pháp luật của bị cáo. Vì vậy, cần có mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo để nhằm răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung cho xã hội cũng như để bị cáo có đủ thời gian cai nghiện.

    • -Về tình tiết giảm nhẹ: Qúa trình điều tra, cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
    • -Xét về tình tiết tăng nặng: bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng.
  3. [3] Về hình phạt bổ sung: Lẽ ra, ngoài hình phạt chính cần phạt bị cáo một khoản tiền sung ngân sách Nhà nước mới đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, nhưng xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy nên miễn hình phạt tiền cho bị cáo là phù hợp.
  4. [4] Về vật chứng:

    Tịch thu tiêu hủy các vật chứng sau:

    • - 01 (một) gói ni lon được hàn kín bên ngoài có dán băng keo màu đen cùng 0,1601 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 444, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B
  5. [5] Đối với đối tượng tên H2 là người bán ma túy cho Nguyễn Hữu H vào ngày 10/4/2024 tại TT.Võ Xu . Hiện chưa xác định rõ nhân thân lai lịch, nên không truy tố là phù hợp.
  6. [6] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Đ, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh được phân công điều tra, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận, nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.
  7. [7] Về án phí HSST: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
  8. [8]Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, 332, 333 của bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c, khoản 1, Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội:

  1. Tuyên bố Nguyễn Hữu H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu H 01(một) năm 03(ba) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị bắt thi hành án.

  3. Về xử lý vật chứng:

    Tịch thu tiêu hủy:

    • - 01 (một) gói ni lon được hàn kín bên ngoài có dán băng keo màu đen cùng 0,1601 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 444, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B

    (Hiện vật chứng trên đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Linh).

  4. Về án phí HSST: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (13/9/2024) để Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND, Công an huyện Đức Linh;
  • - TTLLTP-QG, Sở Tư pháp Bình thuận;
  • - Chi cục THADS huyện Đức Linh ;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu Văn Phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Xuân Thuận

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 58/2024/HS-ST ngày 13/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 58/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger