Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 58/2024/HNGĐ-ST

Ngày 06 tháng 9 năm 2024

“V/v tranh chấp hôn nhân và

gia đình, ly hôn”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lư Thị Châu Ngọc.

Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Văn Tâm và ông Nguyễn Thanh Sơn.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Công Trí, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Huỳnh Thị Bích Vân, Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 105/2024/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 3 năm 2024 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 158/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 65/2024/QĐST-HNGĐ ngày 20/8/2024, giữa:

Nguyên đơn: Bà Lê Thị H, sinh năm 1982; địa chỉ: tổ E, khóm V, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang.

Bị đơn: Ông Ngô Văn H1, sinh năm 1979; địa chỉ: tổ A, khóm V, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang.

Bà H có mặt, ông H1 vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lê Thị H trình bày:

Năm 2003, bà H và ông H1 tự quen biết nhau, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại UBND phường V, thành phố C (Giấy chứng nhận kết hôn số 99/HT, cấp ngày 12/11/2003). Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, sau phát sinh do bất đồng quan điểm sống. Nhận thấy vợ chồng không còn hạnh phúc, nên bà H yêu cầu ly hôn với ông H1.

Về con chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng có 02 con chung tên Ngô Nhựt P, sinh ngày 01/11/2005 và Ngô Minh N, sinh ngày 08/10/2008. Bà H yêu cầu được nuôi dạy 02 con chung, không yêu cầu ông H1 cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ông H1 đã được Thông báo thụ lý vụ án, thông báo mở phiên họp công khai chứng cứ, hòa giải, nhưng ông H1 vắng mặt.

Tòa án tiến hành mở phiên họp công khai chứng cứ, hòa giải, nhưng không tiến hành được (ông H1 vắng mặt không có lý do).

Tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

* Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát:

  • + Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Xác định thẩm quyền thụ lý quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách pháp lý của các đương sự, thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để làm căn cứ giải quyết vụ án và lập hồ sơ đúng theo quy định tại các Điều 195, 196, 198 và Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về xét xử sơ thẩm vụ án. Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
  • + Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Bị đơn vắng mặt nhiều lần không lí do, thuộc trường hợp Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227 BLTTDS năm 2015.
  • + Về việc giải quyết vụ án: Bà H và ông H1 tiến đến hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn, nên được xem là hôn nhân hợp pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng. Xét, vợ chồng phải có nghĩa vụ yêu thương, chung thủy, quan tâm chăm sóc, giúp đỡ, cùng nhau chia sẻ các công việc trong gia đình và sống chung với nhau. Theo bà H cho biết, bà với ông H1 phát sinh mâu thuẫn nhiều vấn đề trong cuộc sống, vợ chồng thường xuyên cãi vã, vợ chồng không còn chung sống, mẫu thuẫn không thể hàn gắn nên bà khởi kiện yêu cầu ly hôn. Qua ghi nhận ý kiến con chung Minh N được biết, bà H với ông H1 có cãi vã và không còn chung sống với nhau. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông H1 và tiến hành hòa giải để vợ chồng hàn gắn tình cảm gia đình nhưng ông H1 không tham gia. Điều đó thể hiện ông H1 không có thiện chí hàn gắn tình cảm gia đình, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng. Nên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H với ông H1. Về con chung: Đối với Ngô Nhựt P, sinh ngày 01/11/2005 hiện đã trưởng thành và có khả năng lao động nên không xem xét giải quyết. Đối với con chung Ngô Minh N sinh ngày 08/10/2008, bà H yêu cầu nuôi dạy con chung và Minh N có nguyện vọng được tiếp tục sống với bà H. Do đó, để ổn định cuộc sống cho con chung Minh N, cần giao bà H tiếp tục nuôi dạy con chung Minh N; ghi nhận sự tự nguyện của bà H không yêu cầu ông H1 cấp dưỡng nuôi con chung.

Từ phân tích trên, căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình 2014, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị HĐXX xem xét quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

[1] Về thẩm quyền: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn. Bị đơn cư trú trên địa bàn thành phố C. Xét, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung:

[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà H và ông H1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường V, thành phố C theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 99/2003 cấp ngày 12/11/2003, nên được xem là hôn nhân hợp pháp làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng.

Bà H yêu cầu xin ly hôn ông H1, nêu nguyên nhân bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không sống chung. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhiều lần mở phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông H1 nhiều lần vắng mặt không có lý do, không có ý kiến gì về việc ly hôn. Từ đó, cho thấy ông H1 không thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Do đó, việc bà H yêu cầu xin ly hôn ông H1 có căn cứ chấp nhận.

[3] Về con chung: Bà H và ông H1 có 02 con chung tên Ngô Nhựt P, sinh ngày 01/11/2005 hiện đã trưởng thành và Ngô Minh N, sinh ngày 08/10/2008, hiện đang sống cùng bà H. Cháu N có nguyện vọng được mẹ nuôi dạy. Xét thời gian nuôi dạy cháu N, bà H đã đảm bảo đầy đủ về thể chất, tinh thần của cháu, do đó, chấp nhận yêu cầu của bà H, giao cháu N cho bà H tiếp tục nuôi dạy đến trưởng thành. Bà H không yêu cầu ông H1 cấp dưỡng nuôi con chung, đây là sự tự nguyện của bà H, xét chấp nhận.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập xem xét giải quyết.

[5] Về án phí: Bà H phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định pháp luật. Ông H1 không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, 81, 82, 82 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 147; Điều 227 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị H.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị H được ly hôn với ông Ngô Văn H1.

2. Về con chung: Bà Lê Thị H được quyền nuôi dạy Ngô Minh N, sinh ngày 08/10/2008 cho đến khi thành niên và có khả năng lao động. Ông Ngô Văn H1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Bà Lê Thị H cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông Ngô Văn H1 trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con chung, hạn chế quyền thăm nom con chung, buộc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí hôn nhân sơ thẩm:

Bà Lê Thị H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng theo biên lai số 0003332 ngày 26 tháng 3 năm 2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang, bà Lê Thị H đã nộp đủ;

Ông Ngô Văn H1 không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo:

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bà Lê Thị H có quyền kháng cáo Tòa án nhân dân tỉnh An Giang để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Riêng thời hạn kháng cáo của ông Ngô Văn H1 là 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án ND tỉnh An Giang (1);
  • - Viện kiểm sát ND Tỉnh AG (1)
  • - Viện kiểm sát TPCĐ (1);
  • - Thi hành án DS TPCĐ (1);
  • - Các đương sự;
  • - UBND nơi đăng ký kết hôn;
  • - Lưu hồ sơ (1),
  • - Lưu văn phòng (1)

TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lư Thị Châu Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 58/2024/HNGĐ-ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn

  • Số bản án: 58/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhậntoàn bộ yêu cầu khởi kiện
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger