|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TP. LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI |
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
|
Bản án số:58/2024/DS-ST Ngày: 28-8-2024 V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Yến
Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Trọng Vinh
2. Bà Trần Thị Tố Loan
Thư ký phiên tòa: Bà Dương Bùi Minh Thư – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thạch Thảo - Kiểm sát viên.
Vào ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại Hội trường B, Toà án nhân dân thành phố Long Khánh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 81/2024/DSST ngày 19/3/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 108/2024/QĐXXST-DS ngày 18/7/2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 98/HPT-ST ngày 07/08/2024 giữa các đương sự:
- * Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Q (N2).
- Địa chỉ: B, L, Phường L, quận H, TP ..
- Đại diện theo pháp luật: Bà Bùi Thị Thanh H – Chủ tịch Hội đồng quản trị.
- Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hữu C – Phó Giám đốc Trung tâm xử lý nợ.
- Ông C uỷ quyền cho ông Võ Đình A, Võ Xuân K – Chuyên viên xử lý nợ.
- Địa chỉ: E, Hùng vương, khu phố C, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
- (Văn bản uỷ quyền số 3943/2024/UQ-BĐH.NCB.5 ngày 12/6/2024)
- * Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thu H1, sinh năm 1978
- Ông Lê Văn N, sinh năm 1979
- Địa chỉ: A, Nguyễn Hữu C1, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
1
(Đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn ngân hàng TMCP Q do ông Võ Xuân K đại diện trình bày:
Ông Lê Văn N, bà Nguyễn Thị Thu H1 vay vốn tại ngân hàng TMCP Q (N2) – Chi nhánh Đ theo Hợp đồng cho vay số 96/21/HĐCV-9375 ký ngày 12/11/2021 và Đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ số 001/KUNN/96/21/HĐCV-9375 ký ngày 12/11/2021 với số tiền 4.800.000.000₫ (Bốn tỷ tám trăm triệu đồng); Thời hạn vay là 300 tháng. Mục đích vay hoàn tiền mua bất động sản tại thửa đất số 14, tờ bản đồ số 37 tại thôn T, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận. Lãi suất vay kỳ đầu tiên cho đến ngày 12/02/2022 là 12,5%/năm. Lãi suất vay kỳ tiếp theo: Lãi suất áp dụng đối với các khoản vay của khách hàng cho thời gian tiếp theo được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần theo công thức lãi suất vay bằng (=) lãi suất cơ sở cộng (+) 4.2%/ năm. Mức lãi suất cơ sở trên do ngân hàng N2 ban hành trong từng thời kỳ. Lãi suất quá hạn: 150% Lãi suất vay. Lãi suất chậm trả lãi: Số tiền lãi phải trả nhưng chưa trả (x) 10% (x) số ngày chậm trả lãi (:) 365 ngày. Ngày thanh toán lãi và gốc là ngày 25 hàng tháng.
Để đảm bảo cho các khoản vay trên tại N2, ông Lê Văn N và bà Nguyễn Thị Thu H1 đã thế chấp tài sản theo Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số 147/21/HĐTC-9375 ký ngày 12/11/2021; Biên bản thỏa thuận về tài sản gắn liền với đất ký ngày 12/11/2021; Cam kết thế chấp ngày 12/11/2021; Biên bản thỏa thuận về việc thỏa thuận giá trị tài sản số 147/21/BBTTGTTS.01 ký ngày 12/11/2021 là Đất, N1 và tài sản khác gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 934942 do UBND thị xã L (nay là thành phố L cấp ngày 01/09/2009, cập nhật thay đổi chủ sử dụng mới nhất ngày 09/08/2016 cấp cho ông Lê Văn N, bà Nguyễn Thị Thu H1. Thửa đất có diện tích 333,9 m² (trong đó diện tích được cấp 227,7 m², diện tích không được cấp 106,2 m²); Mục đích sử dụng: Đất ở tại đô thị thuộc thửa đất số 31; tờ bản đồ số 12; tọa lạc tại địa chỉ: Khu phố B, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
Ngày 12/11/2021, N2 đã giải ngân số tiền 4.800.000.000 đồng cho ông Lê Văn N, bà Nguyễn Thị Thu H1.
Trong quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng, ông N, bà H1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi cho N2. Ngày thực hiện nghĩa vụ cuối cùng của ông Lê Văn N, bà Nguyễn Thị Thu H1 với ngân hàng N2 là ngày 25/10/2022, ông bà chỉ đóng được số tiền 301.414₫ nên vi phạm nghĩa vụ thanh toán của kỳ trả nợ 25/10/2022, do đó khoản vay của ông Lê Văn N, bà Nguyễn Thị Thu H1 đã chuyển qua nợ quá hạn từ ngày 26/10/2022.
N2 đã nhiều lần liên hệ ông, bà để yêu cầu trả nợ; gửi thông báo yêu cầu trả nợ, mời làm việc nhưng ông, bà không thực hiện.
Tổng số tiền ông Lê Văn N, bà Nguyễn Thị Thu H1 đã đóng cho N2 là: 690.390.804 đồng (Bao gồm gốc: 146.943.000 đồng; lãi 543.447.804 đồng).
2
Nay NCB yêu cầu: Buộc ông Lê Văn N, bà Nguyễn Thị Thu H1 phải trả cho NCB số tiền tính đến ngày 28/8/2024 là 6.074.150.662 đồng (Sáu tỷ không trăm bảy mươi bốn triệu một trăm năm mươi nghìn sáu trăm sáu mươi hai đồng) bao gồm: Nợ gốc: 4.653.057.000đ; lãi trong hạn: 1.247.557.176đ; lãi phạt gốc quá hạn: 54.458.399₫; phạt lãi quá hạn: 119.078.087d.
Buộc ông Lê Văn N, bà Nguyễn Thị Thu H1 phải có nghĩa vụ thanh toán số nợ lãi tiếp tục phát sinh được quy định tại Hợp đồng hạn mức cho vay, các đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ đã ký với N2 kể từ ngày 29/8/2024 cho đến khi ông Lê Văn N, bà Nguyễn Thị Thu H1 trả hết nợ cho N2.
Trường hợp sau khi Bản án/ Quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà ông Lê Văn N, bà Nguyễn Thị Thu H1 không thực hiện trả cho N2 toàn bộ số tiền nợ nêu trên và lãi phát sinh thì N2 có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mãi các tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số 147/21/HĐTC-9375 ký ngày 12/11/2021 đối với thửa đất số 31, tờ bản đồ số 12 tọa lạc tại khu phố B, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
Trường hợp số tiền phát mãi từ tài sản thế chấp không đủ thanh toán hết các khoản nợ của ông Lê Văn N, bà Nguyễn Thị Thu H1 tại N2, ông Lê Văn N, bà Nguyễn Thị Thu H1 phải có nghĩa vụ tiếp tục trả hết nợ cho N2.
Buộc ông Lê Văn N, bà Nguyễn Thị Thu H1 phải chịu mọi chi phí tố tụng phát sinh trong suốt quá trình giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
* Bị đơn bà Nguyễn Thị Thu H1, ông Lê Văn N không trình bày do vắng mặt không có lý do.
* Ý kiến của Viện kiểm sát tại phiên tòa:
Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa chấp hành đúng thủ tục tố tụng theo quy định pháp luật. Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn chấp hành đúng quyền, nghĩa vụ của mình khi tham gia tố tụng, bị đơn chưa chấp hành tốt.
Về thời hạn: Thụ lý ngày 19/3/2024, ngày 18/7/2024 Toà án đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định.
Về đường lối giải quyết vụ án:
- Đối với yêu cầu trả số tiền gốc tạm tính đến ngày 28/8/2024 là 6.074.150.662 đồng và tiếp tục tính lãi trên số nợ gốc chưa trả, lãi suất quá hạn theo Hợp đồng cho vay số 96/21/HĐCV-9375 cho đến khi ông Lê Văn N trả xong nợ:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ và lời khai của các bên xác định:
Ngày 12/11/2021, ông Lê Văn N và bà Nguyễn Thị Thu H1 vay N2 số tiền 4.800.000.000 đồng, theo Hợp đồng cho vay số 96/21/HĐCV-9375 và đã ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 147/21/HĐTC-9375 đối với 01 QSDĐ: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số AH934942 do Ủy ban nhân dân thị xã L (nay là TP .) cấp ngày 01/9/2009, cập nhật thay đổi chủ sử dụng mới nhất ngày 09/8/2016 cấp cho ông Lê Văn N và bà
3
Nguyễn Thị Thu H1 (thửa đất số 31, tờ bản đồ 12, tọa lạc tại khu phố B, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai).
Tuy nhiên, đến ngày 25/10/2022, ông N và bà H1 mới thanh toán cho Ngân hàng được số tiền 690.390.804 đồng (bao gồm 146.943.000 đồng tiền gốc và 543.447.804 đồng tiền lãi).
Từ ngày 26/10/2022, ông N và bà H1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng, Ngân hàng đã gửi nhiều thông báo yêu cầu trả nợ và thư mời làm việc nhưng ông bà không thực hiện, trốn tránh làm việc, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông N, bà H1 đã không trả tiền đúng hạn nên NCB căn cứ vào hợp đồng cho vay đã ký kết giữa hai bên để tính nợ gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn và yêu cầu ông N trả là có căn cứ.
Căn cứ khoản 3 Điều 26 BLTTDS; Điều 463, 466, 468, 470 BLDS; các tài liệu có trong hồ sơ, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn: buộc ông Lê Văn N và bà Nguyễn Thị Thu H1 phải trả cho N2 số tiền tạm tính đến ngày 28/8/2024 là 6.074.150.662 đồng, tiếp tục tính lãi trên số nợ gốc chưa trả và lãi suất quá hạn theo Hợp đồng cho vay số 96/21/HĐCV-9375 cho đến khi ông N, bà H1 trả xong nợ.
- Đối với yêu cầu: Trường hợp ông Lê Văn N không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ nêu trên cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu kê biên, phát mãi tài sản thế chấp của ông N theo hợp đồng thế chấp số 146/21/HĐTC-9375 ngày 12/11/2021 giữa N2 với ông Lê Văn N và bà Nguyễn Thị Thu H1. Nếu số tiền phát mãi từ tài sản thế chấp không đủ thanh toán hết khoản nợ cho Ngân hàng thì ông N, bà H1 phải tiếp tục thanh toán cho đến khi xong khoản nợ.
Hợp đồng thế chấp số 146/21/HĐTC-9375 ngày 12/11/2021 được ký kết giữa Ngân hàng với ông N, bà H1 theo đúng quy định pháp luật, tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất số AH 934942 do ông N, bà H1 là chủ sở hữu hượp pháp, căn cứ Điều 4 Hợp đồng thế chấp, Ngân hàng được quyền xử lý tài sản đảm bảo khi ông N, bà H1 không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ, xét thấy, yêu cầu này của nguyên đơn là có cơ sở, do đó, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
Về án phí: căn cứ khoản 1 Điều 147 BLTTDS 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14: Ông Lê Văn N, bà Nguyễn Thị Thu H1 phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật: nguyên đơn yêu cầu Tòa án buộc ông Lê Văn N, bà Nguyễn Thị Thu H1 trả số tiền tạm tính đến ngày 28/8/2024 là 6.074.150.662 đồng (Sáu tỷ không trăm bảy mươi bốn triệu một trăm năm mươi nghìn sáu trăm sáu mươi hai đồng) bao gồm: Nợ gốc: 4.653.057.000đ; lãi trong hạn:
4
1.247.557.176đ; lãi phạt gốc quá hạn: 54.458.399đ; phạt lãi quá hạn: 119.078.087₫ nên quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
[2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Lê Văn N và bà Nguyễn Thị Thu H1 có hộ khẩu thường trú tại tổ A, ấp B, xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai nhưng năm 2023 đã bán nhà, đất và đi khỏi địa phương. Tại (BL127), Công an phường X xác nhận ông N, bà H1 mặc dù không đăng ký thường trú, tạm trú tại phường X nhưng ông bà đang sinh sống tại 19, N, khu phố B, phường X, thành phố L nên thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân thành phố Long Khánh theo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 35 và điểm a, khoản 1, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về tư cách tham gia tố tụng: Ngân hàng TMCP Q (N2) khởi kiện ông Lê Văn N và bà Nguyễn Thị Thu H1 nên ngân hàng là nguyên đơn, ông Lê Văn N và bà Nguyễn Thị Thu H1 là bị đơn.
N2 ủy quyền cho ông Võ Đình A hoặc ông Võ Xuân K đại diện theo đúng quy định tại Điều 138 – BLDS.
[4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nhận thấy:
Giữa nguyên đơn và ông N và bà H1 có ký Hợp đồng cho vay số 96/21/HĐCV-9375 ký ngày 12/11/2021 và Đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ số 001/KUNN/96/21/HĐCV-9375 ký ngày 12/11/2021 với số tiền 4.800.000.000₫ (Bốn tỷ tám trăm triệu đồng).
Để đảm bảo cho khoản vay trên, ông Lê Văn N, bà Nguyễn Thị Thu H1 đã thế chấp cho N2 tài sản theo Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số 147/21/HĐTC-9375 ký ngày 12/11/2021; Biên bản thỏa thuận về tài sản gắn liền với đất ký ngày 12/11/2021; Cam kết thế chấp ngày 12/11/2021 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 934942 do UBND thị xã L (nay là thành phố L cấp ngày 01/09/2009, cập nhật thay đổi chủ sử dụng mới nhất ngày 09/08/2016 cấp cho ông Lê Văn N, bà Nguyễn Thị Thu H1.
Tại (BL92-96) hợp đồng cho vay ngày 12/11/2021 quy định về sự kiện vi phạm và xử lý sự kiện vi phạm:
Điều 7. Nghĩa vụ trả Các khoản phải trả:
1. Bên B phải trả hết Các khoản phải trả (nghĩa vụ trả nợ) cho Bên A khi đến hạn trả nợ theo thoả thuận của hai bên tại Hợp đồng này, Khế ước nhận nợ và hoặc Cam kết trả nợ khác.
2. Các khoản phải trả theo Hợp đồng cho vay này bao gồm nợ gốc, lãi vay trong hạn, lãi quá hạn, lãi chậm trả lãi, phí trả nợ trước hạn, các khoản phí khác, các chi phí khác như chi phí quản lý tài sản bảo đảm, chi phí xử lý nợ...và các chi phí khác có liên quan đến khoản vay theo Hợp đồng cho vay này.
Nếu xảy ra một hoặc các trường hợp sau đây thì Bên A được áp dụng ngay một hoặc đồng thời các biện pháp nêu tại khoản 4 Điều này:
a) Ngay khi đến hạn trả Các khoản phải trả mà Bên B chưa thanh toán hoặc chưa thanh toán đầy đủ Các khoản phải trả cho Bên A.
5
......
Điều 10. Chuyển nợ quá hạn, lãi chậm trả:
1. Chuyển nợ quá hạn: Các khoản nợ gốc của Bên B được chuyển sang nợ quá hạn vào ngày liền sau ngày phát sinh một hoặc một số sự kiện sau:
a) Bên B chưa thanh toán hoặc chưa thanh toán đầy đủ số dư nợ gốc cho Bên A đúng thời hạn đã thoả thuận với Bên A và không được Bên A cơ cấu lại thời hạn trả nợ;
b) Bên B không thanh toán số nợ gốc theo đúng thời hạn được Bên A yêu cầu, trong trường hợp Bên B phải trả nợ trước hạn theo thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay này.
2. Các khoản lãi của Bên B được chuyển sang nợ chậm trả vào ngày liền sau ngày phát sinh một hoặc một số sự kiện sau:
a) Bên B chưa thanh toán hoặc chưa thanh toán đầy đủ nợ lãi cho Bên A theo đúng thời hạn đã thoả thuận với Bên A kể cả truờng hợp được Bên A cơ cấu thời hạn trả;
Ngân hàng cung cấp bản sao kê thể hiện ông N, bà H1 thanh toán lần cuối vào ngày 25/10/2022 với số tiền 301.414đ, không đủ thanh toán nợ gốc và lãi của kỳ trả nợ ngày 25/10/2022 và dừng không đóng nữa nên khoản vay của ông Lê Văn N, bà Nguyễn Thị Thu H1 đã chuyển qua nợ quá hạn từ ngày 26/10/2022.
Tạm tính đến ngày 28/8/2024 ông Lê Văn N, bà Nguyễn Thị Thu H1 còn nợ N2 tổng số tiền 6.074.150.662 đồng (Sáu tỷ không trăm bảy mươi bốn triệu một trăm năm mươi nghìn sáu trăm sáu mươi hai đồng) bao gồm: Nợ gốc: 4.653.057.000đ; lãi trong hạn: 1.247.557.176đ; lãi phạt gốc quá hạn: 54.458.399₫; phạt lãi quá hạn: 119.078.087₫.
Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã triệu tập ông N, bà H1 lên làm việc. Ông N, bà H1 đã nhận các văn bản tố tụng của Toà án hợp lệ nhưng không lên làm việc. Tại (BL130), bà H1 thừa nhận vợ chồng có vay của ngân hàng N2 4.800.000.000₫ (Bốn tỷ tám trăm triệu đồng), bà có cùng ký tên nhưng việc làm ăn ông N thực hiện. Do làm ăn khó khăn nên đã nợ lại ngân hàng số tiền tạm tính đến ngày 03/01/2024 là 5.595.866.371đ, trong đó nợ gốc là 4.653.057.000đ, lãi trong hạn là 870.834.879đ, lãi quá hạn 20.350.116đ, lãi chậm trả lãi 51.624.376đ.
Toà án đã mời các bên đương sự tham gia buổi làm việc, xem xét thẩm định tại chỗ tài sản thế chấp, công khai chứng cứ và hoà giải, bà H1 đã nhận trực tiếp giấy triệu tập nhưng ông bà vắng mặt không có lý do nên Toà án đưa vụ án ra giải quyết theo quy định của pháp luật.
Thời hạn cho vay đối với hợp đồng là 300 tháng. Ngân hàng cung cấp bản sao kê thể hiện ông N và bà H1 đã thanh toán lần cuối vào ngày 25/10/2022 với số tiền 301.414đ, không đủ thanh toán nợ gốc và lãi của kỳ trả nợ ngày 25/10/2022 và dừng không đóng nữa. Ngân hàng đã nhiều lần gửi thông báo, mời lên làm việc yêu cầu trả nợ nhưng ông N và bà H1 không thực hiện. Vì vậy, ngân hàng đã thực
6
hiện việc thông báo trả nợ đến ông N và bà H1 theo quy định tại Điều 11 của Hợp đồng cho vay quy định là thu hồi trước hạn Các khoản phải trả:
1. Bên A được quyền ngưng giài ngân và/hoặc thu hồi trước hạn một phần hoặc toàn bộ các khoản phải trả, tùy theo quyết định của Bên A, nếu xảy ra một hoặc các trường hợp sau đây:
1) Bên B hoặc (các) Bên bảo đảm vi phạm hoặc không thực hiện đầy đủ và đúng hạn các thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay này, (các) Khế ước nhận nợ, (các) Hợp đồng bảo đảm hoặc các thỏa thuận khác giữa các bên mà không khắc phục được trong thời hạn do Bên A yêu cầu.
2. Trường hợp Bên A thu hồi trước hạn các khoản phải trả, Bên A sẽ thông báo cho Bên B biết bằng văn bản. Bên B phải trả cho Bên A đầy đủ các khoản phải trả theo thời hạn mà Bên A thông báo.
3. Nếu Bên B không trả hoặc không trả đầy đủ dư nợ gốc đến hạn trả theo thời hạn mà Bên A thông báo thì toàn bộ dư nợ gốc cho vay quá hạn sẽ chuyển thành nợ quá hạn và Bên B phải trả cho Bên A lãi quá hạn tính trên toàn bộ dư nợ gốc quá hạn, theo lãi suất quá hạn thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay này và/ hoặc Khế ước nhận nợ. Ngoài ra Bên B phải trả cho Bên A lãi chậm trả trên số tiền lãi chậm trả theo thỏa thuận tại Hợp đồng này. Bên A đồng thời sẽ áp dụng ngay các biện pháp thu hồi nợ quá hạn theo thỏa thuận tại Hợp đồng này để thu hồi nợ quá hạn”.
Ông bà không thực hiện việc thanh toán lãi, đã được ngân hàng thông báo về việc trả nợ nhưng không thực hiện nên ngân hàng được quyền thu nợ trước hạn và khởi kiện là có cơ sở.
Các tài sản được thế chấp đúng quy định. Ngày 26/6/2024, Tòa án đã tiến hành xem xét tại chỗ, xác định tài sản thế chấp dùng để bảo đảm cho các khoản vay. Ông N, bà H1 đã nhận được giấy mời tham gia buổi xem xét nhưng vắng mặt không có lý do. Toà án không vào bên trong xem xét thực tế được. Tuy nhiên, tại (BL130), bà H1 khai “Căn nhà số A, Nguyễn Hữu C1 vợ chồng tôi cùng 02 con đang sinh sống tại đây”. Như vậy, không phát sinh bên thứ ba.
Theo quy định tại Điều 12 Hợp đồng vay quy định về xử lý tài sản bảo đảm:
1. Bên A được quyền xử lý (các) Tài sản bảo đảm theo các phương thức đã thỏa thuận trong (các) Hợp đồng bảo đảm nếu Bên B không trả cho Bên A các khoản phải trả đầy đủ và đúng hạn, kể cả trường hợp Bên A thu hếi trước hạn Kl phải trả như thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay này.
......
5. Nếu việc xử lý tài sản bảo đảm và việc áp dụng các biện pháp thu hồi nợ khác không đủ để trả các khoản phải trả thì Bên B có trách nhiệm dùng mọi nguồn thu nhập, tài sản khác để tiếp tục trả nợ cho Bên A cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ.
7
Quá trình giải quyết vụ án Toà án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để bà H1, ông N được biết nội dung vụ án và thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định tại các Điều 91, Điều 92, Điều 93, 94, Điều 95, khoản 2, Điều 97, Điều 98 nhưng ông bà không đến tòa làm việc, cũng không có ý kiến trình bày gửi đến Tòa án, do vậy xem như ông bà đã từ chối cung cấp tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình và mặc nhiên thừa nhận nợ. Riêng bà H1 thừa nhận việc vợ chồng bà có vay của ngân hàng cũng như việc không thanh toán nợ cho ngân hàng như ngân hàng đã trình bày. Do ông bà vi phạm nên ngân hàng thu hồi nợ trước hạn và xử lý tài sản theo quy định của pháp luật.
Từ những phân tích nêu trên, căn cứ Điều 463, 464, 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 và ý kiến đề nghị của Viện kiểm sát, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Lê Văn N và bà Nguyễn Thị Thu H1 có nghĩa vụ thanh toán cho ngân hàng TMCP Q (N2) số tiền tính đến ngày 28/8/2024 là 6.074.150.662 đồng (Sáu tỷ không trăm bảy mươi bốn triệu một trăm năm mươi nghìn sáu trăm sáu mươi hai đồng) bao gồm: Nợ gốc: 4.653.057.000đ; lãi trong hạn: 1.247.557.176đ; lãi phạt gốc quá hạn: 54.458.399đ; phạt lãi quá hạn: 119.078.087₫.
Buộc ông N, bà H1 có nghĩa vụ thanh toán số nợ lãi phát sinh được quy định trong hợp đồng vay tính từ ngày 29/8/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ;
Trường hợp ông N, bà H1 không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ thì NCB có quyền đề nghị cơ quan Thi hành án có thẩm quyền xử lý toàn bộ tài sản thế chấp để thu hồi nợ theo Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số 147/21/HĐTC-9375 ký ngày 12/11/2021; Biên bản thỏa thuận về tài sản gắn liền với đất ký ngày 12/11/2021; Cam kết thế chấp ngày 12/11/2021; Biên bản thỏa thuận về việc thỏa thuận giá trị tài sản số 147/21/BBTTGTTS.01 ký ngày 12/11/2021 là Đất, N1 và tài sản khác gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 934942 do UBND thị xã L (nay là thành phố L) cấp ngày 01/09/2009, cập nhật thay đổi chủ sử dụng mới nhất ngày 09/08/2016 cấp cho ông Lê Văn N, bà Nguyễn Thị Thu H1.
Nếu số tiền phát mãi tài sản đảm bảo không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông N, bà H1 vẫn phải thanh toán cho đến khi hết khoản nợ cho N2.
[5] Về án phí: Ông Lê Văn N và bà Nguyễn Thị Thu H1 phải nộp 114.074.151đ (Một trăm mười bốn triệu không trăm bảy mươi bốn ngàn một trăm năm mươi mốt đồng).
Hoàn trả cho N2 56.797.933đ (Năm mươi sáu triệu bảy trăm chín mươi bảy ngàn chín trăm ba mươi ba đồng) tạm ứng án phí đã nộp. (Biên lai thu tiền số 0005068 ngày 13/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.
Về chi phí tố tụng: Bị đơn phải chịu 3.000.000đ (Ba triệu đồng) chi phí tố tụng xem xét tại chỗ, bản ảnh, thuê xe. Số tiền trên nguyên đơn đã nộp tạm ứng nên bị đơn có nghĩa vụ hoàn trả cho nguyên đơn.
8
Ý kiến của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39, các Điều 91, Điều 92, Điều 93, Điều 94, Điều 95, khoản 2, Điều 97, Điều 98, Điều 180, Điều 227, 278 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ các Điều 463, 464, 466, 468 – Bộ luật Dân sự 2015;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa N2 với ông Lê Văn N và bà Nguyễn Thị Thu H1.
Buộc ông Lê Văn N, bà Nguyễn Thị Thu H1 phải trả cho NCB số tiền tính đến ngày 28/8/2024 là 6.074.150.662 đồng (Sáu tỷ không trăm bảy mươi bốn triệu một trăm năm mươi nghìn sáu trăm sáu mươi hai đồng) bao gồm: Nợ gốc: 4.653.057.000đ; lãi trong hạn: 1.247.557.176đ; lãi phạt gốc quá hạn: 54.458.399đ; phạt lãi quá hạn: 119.078.087₫.
Buộc ông N, bà H1 có nghĩa vụ thanh toán số nợ lãi phát sinh được quy định trong hợp đồng vay tính từ ngày 29/8/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ;
Trường hợp ông N, bà H1 không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ thì NCB có quyền đề nghị cơ quan Thi hành án có thẩm quyền xử lý toàn bộ tài sản thế chấp để thu hồi nợ theo Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số 147/21/HĐTC-9375 ký ngày 12/11/2021; Biên bản thỏa thuận về tài sản gắn liền với đất ký ngày 12/11/2021; Cam kết thế chấp ngày 12/11/2021; Biên bản thỏa thuận về việc thỏa thuận giá trị tài sản số 147/21/BBTTGTTS.01 ký ngày 12/11/2021 là Đất, N1 và tài sản khác gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 934942 do UBND thị xã L (nay là thành phố L) cấp ngày 01/09/2009, cập nhật thay đổi chủ sử dụng mới nhất ngày 09/08/2016 cấp cho ông Lê Văn N, bà Nguyễn Thị Thu H1.
Nếu số tiền phát mãi tài sản đảm bảo không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông N, bà H1 vẫn phải thanh toán cho đến khi hết khoản nợ cho N2.
[5] Về án phí: Ông Lê Văn N và bà Nguyễn Thị Thu H1 phải nộp 114.074.151đ (Một trăm mười bốn triệu không trăm bảy mươi bốn ngàn một trăm năm mươi mốt đồng).
Hoàn trả cho N2 56.797.933đ (Năm mươi sáu triệu bảy trăm chín mươi bảy ngàn chín trăm ba mươi ba đồng) tạm ứng án phí đã nộp. (Biên lai thu tiền số
9
0005068 ngày 13/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.
Về chi phí tố tụng: Bị đơn phải chịu 3.000.000đ (Ba triệu đồng) chi phí tố tụng xem xét tại chỗ, bản ảnh, thuê xe. Số tiền trên nguyên đơn đã nộp tạm ứng nên bị đơn có nghĩa vụ hoàn trả cho nguyên đơn.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn kể từ ngày nhận bản án hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Hải Yến |
10
11
Bản án số 58/2024/DS-ST ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 58/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: vay tài sản giữa bank Q và Nguyễn Thị Thu H, Lê Văn N
