|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT TỈNH VĨNH LONG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 58/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 29/7/2024
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con,
cấp dưỡng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Bích
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Phẩm
- Ông Lê Thành Tam
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Kim Liên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít: Không tham gia phiên tòa.
Ngày 29 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mang Thít xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 53/2024/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con, cấp dưỡng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Phước C, sinh năm 1990 (xin vắng mặt)
- Bị đơn: Bà Huỳnh Ngọc T, sinh năm 1993 (vắng mặt)
Địa chỉ: Khu phố E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An.
Địa chỉ: ấp P, xã B, huyện M, tỉnh Vĩnh Long
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 20/3/2024, trong quá trình giải quyết vụ án và tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt của nguyên đơn ông Nguyễn Phước Cao trình B:
Vào năm 2014, ông Nguyễn Phước C và bà Huỳnh Ngọc T qua quen biết nên đã kết hôn có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An vào ngày 29/8/2014, theo giấy chứng nhận kết hôn số 44, quyển số 01. Vợ chồng chung sống có 01 con chung tên Nguyễn Huỳnh Ngọc T1, sinh ngày 21/01/2018, hiện cháu T1 đang sống chung với bà T.
Sau khi cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian. Đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng kéo dài mục đích hôn nhân không đạt được nên bà T bỏ về nhà cha mẹ ruột ở ấp P, xã B, huyện M, tỉnh Vĩnh Long sinh sống và ly thân từ năm 2019 cho đến nay không có đoàn tụ trở lại.
Nay ông Cao cảm T2 mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn lại được nên yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Phước C yêu cầu được ly hôn với bà Huỳnh Ngọc T.
- Về con chung: Ông Nguyễn Phước C tự nguyện giao con chung tên Nguyễn Huỳnh Ngọc T1, sinh ngày 21/01/2018 cho bà Huỳnh Ngọc T nuôi dưỡng, ông C tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 2.000.000 đồng cho đến khi cháu T1 đủ 18 tuổi.
- Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án Toà án đã thông báo cho bị đơn bà Huỳnh Ngọc T biết việc thụ lý vụ án cũng như các yêu cầu của ông C. Nhưng bà T không có văn bản trả lời và vắng mặt tại tất cả các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, đồng thời đều vắng mặt tại các phiên tòa mặc dù đã được tống đạt triệu tập hợp lệ. Do đó, Tòa án không tiến hành ghi lời khai của bị đơn và hòa giải cho các đương sự được.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án; bị đơn có nơi cư trú tại xã B, huyện M, tỉnh Vĩnh Long. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; quá trình tiến hành tố tụng xét xử vụ án, mặc dù đã được triệu tập tống đạt hợp lệ nhưng bị đơn đều vắng mặt không lý do. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về hôn nhân: Xét, giữa ông C và bà T chung sống có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa ông C và bà T là hợp pháp. Ông C cho rằng thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc thì đến đầu năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình hai người không hợp dẫn đến bất đồng quan điểm sống. Từ đó mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, không khắc phục được nên bà T bỏ về nhà cha mẹ ruột ở ấp P, xã B, huyện M, tỉnh Vĩnh Long sinh sống và ly thân từ năm 2019 cho đến nay không có đoàn tụ trở lại. Tòa án cũng đã tiến hành hòa giải để vợ chồng đoàn tụ nhưng bà T đều vắng mặt không có lý do, bà T không đến phiên tòa, thể hiện bà T đã từ bỏ quyền, nghĩa vụ của mình. Điều này cũng chứng tỏ tình cảm vợ chồng không còn, khả năng đoàn tụ là không có, tình trạng hôn nhân giữa ông C và bà T đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, xét việc ông C yêu cầu được ly hôn với bà T là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại các Điều 9, 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.2] Về nuôi con chung: Ông Cao tự N giao con chung tên Nguyễn Huỳnh Ngọc T1, sinh ngày 21/01/2018 cho bị đơn bà Huỳnh Ngọc T nuôi dưỡng; xét cháu T1 hiện do bà T nuôi dưỡng. Do đó, giao con chung tên Nguyễn Huỳnh Ngọc T1 cho bà T nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ông Cao tự N cấp dưỡng nuôi con chung tên Nguyễn Huỳnh Ngọc T1 mỗi tháng là 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) cho đến khi cháu T1 đủ 18 tuổi, sự tự nguyện của ông C là phù hợp theo quy định tại các Điều 107, 110, 116, 117 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, do đó Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của ông C.
[2.4] Về quyền, nghĩa vụ về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xét.
[3] Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu tiền án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) và tiền án phí cấp dưỡng là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ vào các Điều 9, 51, 56, 81, 82, 83, 107, 110, 116, 117 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Điều 24, điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Phước C.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho nguyên đơn ông Nguyễn Phước C được ly hôn với bị đơn bà Huỳnh Ngọc T.
- Về nuôi con chung: Giao con chung tên Nguyễn Huỳnh Ngọc T1, sinh ngày 21/01/2018 cho bị đơn bà Huỳnh Ngọc T nuôi dưỡng.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn:
- Về quyền, nghĩa vụ về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không giải quyết.
- Về án phí: Nguyên đơn phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) và 300.000 đồng tiền án phí cấp dưỡng nuôi con, số tiền này được khấu trừ từ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí mà nguyên đơn đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mang Thít theo lai thu số: 0005712 ngày 21/3/2024. Nguyên đơn phải nộp thêm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Nguyên đơn ông Nguyễn Phước C có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung tên Nguyễn Huỳnh Ngọc T1, sinh ngày 21/01/2018 mỗi tháng là 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng). Thời gian cấp dưỡng tính từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung tên Nguyễn Huỳnh Ngọc T1 đủ 18 tuổi.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo là mười lăm ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Ngọc Bích |
Bản án số 58/2024/HNGĐ-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG về tranh chấp ly hôn, nuôi con, cấp dưỡng
- Số bản án: 58/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con, cấp dưỡng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
