Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BÀ RỊA

TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

Bản án số: 58/2024/HS-ST

Ngày 30-5-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do – Hạnh Phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Hoàng Thị Tuyết

2. Bà Nguyễn Thị Tuyết Hồng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Lý - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 45/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2024/QÐST-HS ngày 17 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Ngọc Á, sinh năm 1979, tại Đồng Tháp; hộ khẩu thường trú: Ấp A, xã H, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; chỗ ở: Tổ D, khu phố C, phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1952 và bà Lê Kim Đ, sinh năm 1955; bị cáo là con đầu trong gia đình có 03 chị em. Bị cáo không có chồng nhưng có 02 con, con lớn sinh năm 2002, con nhỏ sinh năm 2015

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, (bị cáo có mặt).

Người làm chứng:

  • + Lưu Thị Xuân T1, sinh năm 1991; trú tại: Khu phố L, thị trấn L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
  • + Đặng Ngọc P, sinh năm 1989; trú tại: Số E, đường Đ, khu phố C, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
  • + Ông Nguyễn Công D, sinh năm 1949; hộ khẩu thường trú: Khu phố L, thị trấn L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; chỗ ở: Tổ A, ấp P, xã L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
  • + Bà Phan Thị B, sinh năm 1975; trú tại: Số F N, phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thị Ngọc Á kinh doanh quán cà phê Lưu L, địa chỉ: A V, khu phố C, phường L, thành phố B, Á thoả thuận với Đặng Ngọc P, sinh năm 1989, hộ khẩu thường trú: Ấp H, thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang và Lưu Thị Xuân T1, sinh năm 1991, hộ khẩu thường trú: ấp Đ, xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh làm nhân viên quán. Ánh không trả lương cho P, T1 mà khi làm việc tại quán L2, hai người này sẽ tho ả thuận bán dâm cho khách đến quán uống nước với giá 450.000 đồng mỗi lượt và phải trả cho Á số tiền 100.000 đồng môi giới gồm cả 20.000 đồng là tiền nước. Trong trường hợp khách đến quán cà phê Lưu L không mua dâm, P và T1 sẽ thu tiền nước với giá 20.000 đồng/chai và đưa cho Á.

Qua làm việc, Nguyễn Thị Ngọc Á, Đặng Ngọc P và Lưu Thị Xuân T1 đều xác nhận P đã hoạt động bán dâm từ năm 2022, Thì bán dâm từ tháng 8/2023 khi đến làm việc tại quán L2. Khi có khách đến uống nước đồng ý mua dâm, Đặng Ngọc P, Lưu Thị Xuân T1 sẽ di chuyển đến Nhà nghỉ 2 Chắc thuộc ấp P, xã L, thành phố B để thực hiện mua bán dâm. Ngoài ra, P có bán dâm cho khách tại Nhà nghỉ F thuộc khu phố E, phường L, thành phố B. Do bán dâm trong thời gian dài và nhi ều lần, nên Đặng Ngọc P chỉ nhớ chính xác được ngày 25/10/2023 và ngày 26/10/2023, các ngày trước đó P có bán dâm nhưng không nhớ chính xác số lần và số tiền, đối chiếu hình ảnh dữ liệu camera xác định cụ thể:

  • + Khoảng 20 giờ 14 phút ngày 21/10/2023, tại Nhà nghỉ B1 thuộc ấp P, xã L, thành phố B, P và T1 cùng đi bán dâm cho hai người mua dâm.
  • + Ngày 22/10/2023, tại Nhà nghỉ 2 Chắc Thì đã bán dâm 02 lần cho 02 người, lần thứ nhất vào khoảng 18 giờ 19 phút; lần thứ hai khoảng 19 giờ 06 phút.
  • + Ngày 25/10/2023 tại Nhà nghỉ 2 Chắc, P đã bán dâm 02 lần cho 02 người, lần thứ nhất vào khoảng 14 giờ 59 phút, lần thứ hai vào khoảng 19 giờ 43 phút.
  • + Ngày 26/10/2023, P đã bán dâm 05 lần cho 05 người: lần thứ nhất tại phòng 102 Nhà N thuộc khu phố E, phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu vào khoảng 10 giờ 20 phút; tại Nhà nghỉ 2 Chắc lần thứ hai vào khoảng 12 giờ 26 phút; lần thứ ba, vào khoảng 14 giờ 12 phút; lần thứ tư, vào khoảng 15 giờ 16 phút; lần thứ năm, vào khoảng 15 giờ 42 phút.

P đã đưa cho Á tổng cộng 700.000 đồng, trong đó có 140.000 đồng tiền nước, còn lại 560.000 đồng là tiền môi giới.

Thì đã đưa cho Á tổng cộng 300.000 đồng, trong đó có 60.000 tiền nước, còn lại 240.000 đồng tiền môi giới.

Trích xuất dữ liệu tin nhắn zalo của Á ghi nhận Á có gửi hình ảnh của P, T1 và một số người không rõ lai lịch để chào mời khách mua dâm nhưng Á khai không thành công.

Bản cáo trạng số: 55/CT-VKSTPBR ngày 15 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã truy tố Nguyễn Thị Ngọc Á về tội “Môi giới mại dâm”

Tại phiên Tòa: Nguyễn Thị Ngọc Á khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, Á xác nhận P và Thì là nhân viên quán cà phê do Á làm chủ. Ánh với P và T1 cùng thỏa thuận việc P và T1 tự bán dâm nếu khách đến uống nước có nhu cầu để lấy tiền trang trải cuộc sống, Á không trả lương, P và T1 đồng ý. Ngoài ra, Á còn kết nối khách bên ngoài có nhu cầu mua dâm cho P và T1. Nếu bán dâm thành công P và T1 mỗi người sẽ cho Á 80.000đ (tám mươi ngàn đồng) và trả 20.000₫ (hai mươi ngàn đồng) tiền nước, tổng cộng là 100.000đ (một trăm ngàn đồng). Khi khách có nhu cầu mua dâm P và T1 dẫn khách đến nhà nghỉ để thực hiện hành vi mua bán dâm, không thực hiện tại quán. Việc mua bán dâm tại nhà nghỉ N4 do khách mua dâm lựa chọn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa giữ nguyên quan điểm truy tố theo như bản cáo trạng và phát biểu luận tội, phân tích hành vi phạm tội của bị cáo, hậu quả do hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra; đặc điểm nhân thân của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Ngọc Á phạm tội “Môi giới mại dâm”. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm d, đ khoản 2 Điều 328, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Á từ 04 (bốn) năm đến 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy bị cáo dùng đăng nhập tài khoản zalo để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước. 04 thẻ nhớ lưu trữ dữ liệu camera quán cà phê Lưu L (kèm theo vụ án). Buộc bị cáo phải nộp sung Ngân sách Nhà nước số tiền 800.000đ (tám trăm ngàn đồng) thu lợi bất chính.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định pháp luật.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, đồng ý với tội danh và mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đưa ra; bị cáo không tranh luận gì, chỉ mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo rất hối hận, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với diễn biến vụ án, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, phù hợp với tài liệu, chứng cứ thu giữ được có trong hồ sơ vụ án. Từ đó đủ căn cứ để Hội đồng xét xử kết luận: Từ ngày 21/10/2023 đến ngày 26/10/2023, tại quán L2, địa chỉ số A, đường V, khu phố C, phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Nguyễn Thị Ngọc Á có hành vi dẫn dắt cho Đặng Ngọc P bán dâm 07 lần tại nhà nghỉ 2 Chắc, địa chỉ: Ấp P, xã L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; 01 lần tại nhà nghỉ F thuộc khu phố E, phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và Lưu Thị Xuân T1 bán dâm 03 lần tại nhà nghỉ 2 Chắc, địa chỉ: Ấp P, xã L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

[2.2] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Nguyễn Thị Ngọc Á là chủ quán cà phê, P và T1 xin vào làm việc tại quán từ khoảng năm 2022, P vào trước, T1 vào sau. Khi đến làm việc Á và nhân viên thỏa thuận với nhau về việc các nhân viên tự bán dâm nếu khách đến uống nước có nhu cầu hoặc thông qua giới thiệu của Á để lấy tiền tự trang trải, Á không trả tiền lương cho nhân viên, được P và T1 đồng ý. Tổng số lần P và T1 thực hiện việc bán dâm thành công là 11 lần, trong đó P 08 lần, Thì 03 lần. Mỗi lần bán dâm thành công P và T1 mỗi người phải trả cho Á số tiền 100.000đ (một trăm ngàn đồng), trong đó tiền môi giới 80.000đ, tiền nước 20.000đ. Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, đã xâm phạm tới trật tự quản lý hành chính của Nhà nước, thuần phong mỹ tục, nếp sống văn minh, đạo đức xã hội của dân tộc và làm mất trật tự trị an ở địa phương; hành vi của bị cáo còn là một trong những nguyên nhân làm lây truyền các loại bệnh nguy hiểm lây truyền qua đường tình dục; bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi dẫn dắt người mại dâm là trái pháp luật. Tuy nhiên, do không có ý thức tôn trọng pháp luật, hám lợi, muốn hưởng tiền thù lao từ việc móc nối, môi giới mại dâm nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Bị cáo đã môi giới cùng lúc cho 02 cặp nam nữ mua bán dâm và thực hiện việc môi giới nhiều lần.

Bị cáo thực hiện việc môi giới cho P và T1 bán dâm tổng cộng là 11 lần. Tuy nhiên, ngoài việc thu nhập từ quán cà phê thì bị cáo còn buôn bán rau quả có xác nhận từ những người sống xung quanh, bị cáo không lấy nguồn tiền từ

việc môi giới mại dâm để làm nguồn sống chính. Vì vậy, hành vi của bị cáo không có tính chất chuyên nghiệp mà chỉ là phạm tội 02 lần trở lên.

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa truy tố bị cáo về tội danh “Môi giới mại dâm” là đúng quy định pháp luật.

Do vậy, hành vi nêu trên của bị cáo đã có đủ dấu hiệu cấu thành tội “Môi giới mại dâm” theo quy định tại điểm d, đ khoản 2 Điều 328 Bộ luật Hình sự.

[2.3] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52; tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, ông ngoại của bị cáo có công với cách mạng, bị cáo một mình nuôi con đang độ tuổi ăn học nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Do đó, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[2.4] Đối với khoản tiền bị cáo thu lợi bất chính tổng cộng là 800.000đ cần buộc bị cáo giao nộp để sung Ngân sách nhà nước.

[2.5] Đối với Đặng Ngọc P và Lưu Thị X Thì là gái bán dâm đã bị xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp với quy định pháp luật.

[2.6] Đối với Nguyễn Công D và Phan Thị B là chủ kinh doanh nhà nghỉ, không biết P và T1 là gái bán dâm, không thỏa thuận với P, T1 và bị cáo, không thu lợi từ việc môi giới cũng như việc bán dâm nên không có căn cứ để xử lý về tội “Chứa mại dâm”. Tuy nhiên, do không tuân thủ đúng về việc kinh doanh nhà nghỉ nên đã bị xử phạt về hành vi vi phạm hành chính là phù hợp.

[2.7] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 điện thoại loại hiệu S M51, bị cáo dùng để liên lạc, kết nối giữa người mua dâm và bán dâm, do đó cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

[2.8] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo một mình đang nuôi 02 con ăn học, kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[2.9] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị Ngọc Á phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

[2.10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Ngọc Á phạm tội “Môi giới mại dâm”.
  2. Căn cứ vào: Điểm d, đ Khoản 2 Điều 328; điểm s Khoản 1 Khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Ngọc Á 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt chấp hành án.

  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 47 của Bộ luật Hình sự.
  4. Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại loại hiệu Samsung Galaxy M51, số Emei 1: 353544561036690, số Emei 2: 353914471036694.

    (Đặc điểm vật chứng được thể hiện theo Biên bản giao nhận vật chứng số: 70 ngày 15-4-2024 giữa Công an thành phố B với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng).

  5. Buộc bị cáo phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính 800.000đ (tám trăm ngàn đồng) sung vào Ngân sách Nhà nước.
  6. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Thị Ngọc Á phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  7. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (30/5/2024) để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử theo trình tự thủ tục phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh BR-VT;
  • - VKSND tỉnh BR-VT;
  • - Sở Tư pháp tỉnh BR-VT;
  • - PV 27, PV 06;
  • - Công an tỉnh BR-VT;
  • - VKSND thành phố Bà Rịa;
  • - Công an thành phố Bà Rịa;
  • - CCTHA dân sự thành phố Bà Rịa;
  • - Bị cáo; các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 58/2024/HS-ST ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU về môi giới mại dâm

  • Số bản án: 58/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Môi giới mại dâm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Ngọc A phạm tội Môi giới mại dâm theo điểm d, đ khoản 2 Điều 328 Bộ luật Hình sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger